46% tổng số ca mắc não mô cầu là trẻ dưới 15 tuổi, bác sĩ khuyến cáo dấu hiệu diễn biến nặng

Trẻ vị thành niên là nhóm có tỷ lệ mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng hầu họng cao gấp đôi so với dân số chung. Nhóm này vừa đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao, vừa tiềm ẩn nguồn lây trong cộng đồng.

Bác sĩ chuyên khoa I Bạch Thị Chính chia sẻ thông tin chuyên môn.
Bác sĩ chuyên khoa I Bạch Thị Chính chia sẻ thông tin chuyên môn.

Theo thống kê từ Bộ Y tế, đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 24 ca mắc bệnh não mô cầu, đáng lưu ý, trẻ dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca mắc.

Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis cư trú ở vùng hầu họng của con người và lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần với dịch tiết chứa mầm bệnh. Khi hệ miễn dịch suy giảm hoặc niêm mạc hô hấp bị tổn thương, vi khuẩn có thể nhanh chóng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết tối cấp hoặc tấn công lên não gây viêm màng não.

Bác sĩ chuyên khoa I Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống Tiêm chủng VNVC cho biết, não mô cầu gây 2 thể bệnh thường gặp là viêm màng não (chiếm hơn 50% các trường hợp bệnh do não mô cầu xâm lấn) hoặc nhiễm trùng huyết tối cấp (chiếm từ 5-20%).

Đây là 2 thể bệnh chính, có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời với tốc độ diễn tiến rất nhanh, nhiều trường hợp ban ngày trẻ còn đi học nhưng chỉ sau vài giờ đã rơi vào tình trạng nguy kịch. Một số trường hợp ít gặp hơn bao gồm viêm phổi (chiếm từ 5-15%), viêm kết mạc, viêm tai giữa, viêm thanh môn, viêm khớp, viêm niệu đạo, viêm màng ngoài tim.

Các chuyên gia cho rằng trẻ dưới 15 tuổi đối mặt với “nguy cơ kép” khi vừa dễ mang vi khuẩn não mô cầu, vừa có nguy cơ diễn tiến nặng khi mắc bệnh. Theo Hội Y học dự phòng, tỷ lệ mang vi khuẩn ở nhóm này có thể lên tới 25-32%, cao nhất trong các độ tuổi, với nguy cơ mắc bệnh có thể gấp đôi dân số chung.

Dữ liệu quốc tế cũng cho thấy nhóm 13-19 tuổi chiếm tỷ lệ mắc cao nhất (khoảng 34,2%) và gần một nửa số ca tử vong. Trẻ nhỏ dễ phơi nhiễm do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện và thói quen tiếp xúc gần. Trong khi đó, thanh thiếu niên lại có nguy cơ lây lan cao trong môi trường tập thể như trường học, ký túc xá, sinh hoạt đông người.

Nếu không được điều trị kịp thời, tỷ lệ tử vong do bệnh não mô cầu có thể lên tới 50%, và ngay cả khi được cứu chữa tích cực, khoảng 10-15% trường hợp vẫn không qua khỏi.

Đồng thời, bệnh do não mô cầu không chỉ gây hậu quả cấp tính mà còn để lại gánh nặng lâu dài về sức khỏe thể chất và tinh thần. Khoảng 20% người sống sót phải đối mặt với di chứng nặng nề như điếc, liệt, tổn thương não, suy thận hoặc chậm phát triển trí tuệ.

Trẻ hồi phục sau bệnh có nguy cơ gia tăng các rối loạn tâm lý như tăng động giảm chú ý, lo âu, trầm cảm; đồng thời các vấn đề về hành vi, cảm xúc trong môi trường học đường và gia đình cũng gia tăng.

Không chỉ trẻ, người chăm sóc, đặc biệt là cha mẹ, cũng có thể đối mặt với rối loạn căng thẳng sau sang chấn kéo dài nhiều năm sau biến cố.

phu-huynh-dua-tre-di-tiem-vac-xin-nao-mo-cau-tai-vnvc.jpg
Trẻ tiêm vaccine phòng não mô cầu.

Việt Nam đang lưu hành đồng thời 5 nhóm huyết thanh gây bệnh não mô cầu gồm A, B, C, Y và W. Bác sĩ Chính khuyến cáo tiêm chủng là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và kiểm soát dịch não mô cầu. Tuy nhiên, mỗi loại vaccine hiện nay chỉ phòng được một hoặc một số nhóm huyết thanh nhất định và không có miễn dịch chéo, nên việc phòng bệnh cần đặt ra yêu cầu bảo vệ toàn diện.

Hiện Việt Nam có đầy đủ vaccine dự phòng 5 nhóm huyết thanh não mô cầu, gồm các vaccine tứ giá thế hệ mới A, C, Y, W (Menquadfi, Nimenrix, Menactra) và nhóm B thế hệ mới (Bexsero) cùng vaccine BC cho nhiều độ tuổi từ trẻ nhỏ đến người lớn. Các vắc xin này giúp tạo miễn dịch bền vững, giảm mắc bệnh, tử vong và hạn chế người lành mang trùng, góp phần kiểm soát dịch và chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi tiêm đầy đủ bao phủ toàn diện và đúng lịch.

Bác sĩ Chính nhấn mạnh tất cả những người chưa có miễn dịch đều có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là trẻ nhỏ, học sinh, sinh viên và thanh thiếu niên sống trong môi trường tập thể. Do đó, phụ huynh cần chủ động rà soát lại lịch tiêm và phạm vi bảo vệ của vaccine, bảo đảm trẻ được tiêm phối hợp đầy đủ nhóm B và nhóm A, C, Y, W để được bảo vệ toàn diện.

Hiện các bệnh truyền nhiễm khác như tay chân miệng, sốt xuất huyết, cúm… cũng đang có xu hướng gia tăng, nguy cơ “dịch chồng dịch” trong môi trường học đường trở nên rõ rệt hơn. Sự lưu hành đồng thời của nhiều tác nhân gây bệnh không chỉ làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng mà còn khiến việc nhận diện sớm trở nên khó khăn, dễ nhầm lẫn triệu chứng ban đầu và làm chậm trễ can thiệp y tế kịp thời. Vì vậy, phòng bệnh không thể chờ đến khi có ca bệnh mà cần được thực hiện chủ động, từ sớm và đầy đủ để giảm nguy cơ dịch chồng dịch, bảo vệ an toàn cho trẻ và cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm

Nhân viên y tế khám sàng lọc sức khỏe đầu năm cho học sinh. (Ảnh minh họa: Bệnh viện đa khoa Đống Đa)

Cảnh giác cơn hen cấp ở trẻ những tuần đầu năm học

Trẻ mắc hen phế quản có nguy cơ tái phát cơn cấp khi trở lại trường, nhất là trong 2-3 tuần đầu sau khai giảng. Virus đường hô hấp, môi trường lớp học, bụi, nấm mốc và thay đổi nhiệt độ là những yếu tố có thể kích hoạt cơn hen, đòi hỏi gia đình và nhà trường chủ động phòng ngừa.

Bệnh nhi hồi phục sau ca ghép. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Bé 11 tháng tuổi mắc viêm ruột khởi phát sớm do đột biến gene hiếm gặp

Bệnh nhi T.N nhập viện khi mới 11 tháng tuổi, chỉ nặng 6kg, suy dinh dưỡng nặng, gần như không thể tự ngồi hay đi lại. Sau nhiều xét nghiệm chuyên sâu, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương xác định trẻ mắc một dạng viêm ruột khởi phát sớm do đột biến gene hiếm gặp. Ghép tế bào gốc tạo máu là cơ hội duy nhất để cứu sống trẻ.

Thạc sĩ, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân khám, tư vấn cho bệnh nhân. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Nhận diện sớm những bất thường tâm lý, hành vi ở trẻ để ngăn hậu quả đáng tiếc

Những thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi ở trẻ có thể xuất phát từ nhiều áp lực và trải nghiệm trong cuộc sống. Theo Thạc sĩ, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân, việc nhận diện sớm các dấu hiệu, đồng hành và hỗ trợ kịp thời có thể giúp trẻ vượt qua khó khăn trước khi vấn đề trở nên nghiêm trọng.

Phút tri ân trước nghĩa cử cao đẹp của anh và gia đình. (Ảnh: BV cung cấp)

Giữa mất mát, người mẹ quyết định hiến tạng con trai cứu nhiều người

Người con trai vừa từ Nhật Bản trở về chăm mẹ bất ngờ mắc xuất huyết não do vỡ phình động mạch, tổn thương não không thể hồi phục. Trong nỗi đau mất người thân, gia đình đã đồng ý hiến trái tim, gan, hai quả thận và hai giác mạc của anh, trao cơ hội sống và tìm lại ánh sáng cho nhiều người bệnh.

Ê-kíp phẫu thuật áp dụng phương pháp phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít hợp kim titanium đường trong miệng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Nẹp vít hàm mặt qua đường rạch trong khoang miệng giúp bảo tồn khớp nhai và tính thẩm mỹ

Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Đức Hòa (Tây Ninh) vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nắn chỉnh và kết hợp xương bằng nẹp vít hàm mặt. Đáng chú ý, toàn bộ quá trình tiếp cận ổ gãy đều được thực hiện qua đường rạch trong khoang miệng, giúp bảo tồn tính thẩm mỹ và phục hồi chức năng vận động khớp nhai cho người bệnh.

Bác sĩ khám lại cho bệnh nhi. (Ảnh: BVCC)

Cảnh giác Adenovirus gây sốt cao 40 độ C ở trẻ nhỏ

Bé trai 4 tuổi ở Ninh Bình nhập viện sau 2 ngày sốt cao liên tục, có thời điểm 40 độ C, kèm sưng đau họng, amidan có giả mạc và ăn uống kém. Bác sĩ cảnh báo Adenovirus có thể gây biến chứng viêm phổi, suy hô hấp nếu bệnh tiến triển xuống đường hô hấp dưới.

Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhi. (Ảnh: BVCC)

Bé trai 12 tuổi dị tật tai bẩm sinh, cholesteatoma phá hủy xương chũm

Trên nền dị tật vành tai, ống tai bẩm sinh hai bên, bé trai 12 tuổi mắc cholesteatoma đã lan rộng vào xương chũm, gây tiêu hủy xương và viêm cấp. Các bác sĩ Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương phải phẫu thuật loại bỏ bệnh tích, đồng thời bảo tồn tối đa các cấu trúc quan trọng để chuẩn bị cho việc tái tạo vành tai sau này.

[Video] Dự kiến nâng mức hưởng bảo hiểm y tế lên 85% từ năm 2027

[Video] Dự kiến nâng mức hưởng bảo hiểm y tế lên 85% từ năm 2027

Từ ngày 1/7/2027 nâng mức hưởng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp hiện được hưởng 80% chi phí khám, chữa bệnh lên 85%, tiến tới 90% từ ngày 1/7/2029. Đây là nội dung đang được Bộ Y tế dự thảo tại Nghị định quy định lộ trình tăng mức hưởng và phạm vi hưởng bảo hiểm y tế, phù hợp mức đóng và khả năng cân đối của quỹ.