Trang chủ Trung du và miền núi Bắc Bộ Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

Người giữ nhịp chiêng ở M’Druk

Từ những bộ chiêng tre tự làm đến các lớp học không thu học phí, nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm, buôn M’Druk, phường Ea Kao (tỉnh Đắk Lắk) đã bền bỉ truyền dạy cồng chiêng cho lớp trẻ, góp phần giữ gìn âm vang di sản Ê Đê trong đời sống cộng đồng.

Nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm diễn tấu chiêng tre.
Nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm diễn tấu chiêng tre.

Giữa không gian ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc tỉnh Đắk Lắk, nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm lặng lẽ đứng bên cánh gà sân khấu. Ông chăm chú dõi theo từng nhịp tay, bước chân của những học trò nhỏ trong đội cồng chiêng do mình truyền dạy. Có em là người Ê Đê, có em là người Kinh, có cả những gương mặt còn rất nhỏ nhưng đã biết nắm nhịp chiêng tre (ching kram) khá thành thạo. Với ông, chỉ cần các em còn thích tiếng chiêng, còn muốn học, thì việc gìn giữ di sản vẫn còn hy vọng.

Nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm gắn bó với cồng chiêng từ thuở nhỏ. Với ông, tiếng chiêng không chỉ là âm thanh của lễ hội, mà còn là linh hồn của buôn làng, là ký ức của người Ê Đê gửi lại qua nhiều thế hệ. Vì thế, học cồng chiêng không chỉ là học cách đánh cho đúng nhịp, mà còn là học cách hiểu cội nguồn văn hóa của dân tộc mình.

Suốt hàng chục năm qua, nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm bền bỉ đi nhiều nơi để truyền dạy cồng chiêng. Ai muốn học, ông đều sẵn lòng chỉ bảo, hoàn toàn miễn phí. Không bó hẹp trong cộng đồng Ê Đê, ông mở rộng lớp học cho cả phụ nữ, trẻ em, người Kinh và những người dân tộc khác. Ông quan niệm, muốn giữ được nhịp chiêng thì trước hết phải có người biết đánh, biết yêu và biết trân trọng. Khi thiếu nhạc cụ để dạy, ông vào rừng tìm tre, tự đẽo thành những bộ chiêng tre cho học trò tập luyện. Chiêng tre không thay thế được cồng chiêng truyền thống, nhưng là cách làm phù hợp để trẻ em dễ tiếp cận, dễ làm quen với tiết tấu, nhịp phách trước khi bước vào học chiêng đồng. Từ những lớp học giản dị ấy, nhiều đội cồng chiêng trẻ đã hình thành, có đội đủ khả năng tham gia biểu diễn trong các sự kiện văn hóa của địa phương. Đó là niềm vui lớn đối với người nghệ nhân đã dành nhiều năm lặng thầm gieo tiếng chiêng vào lớp trẻ.

Tuy nhiên, việc truyền dạy cồng chiêng hôm nay không dễ. Nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm cho rằng cái khó không chỉ nằm ở kỹ thuật đánh chiêng, mà còn ở phương pháp truyền đạt. Có người biết đánh rất hay, nhưng khi dạy lại không làm cho học viên hiểu và nhớ được. Với trẻ em, việc học càng cần sự kiên nhẫn, cách hướng dẫn phù hợp, biến những bài chiêng vốn khó thành những nhịp điệu gần gũi. Ông luôn nhắc học trò nghe kỹ, đánh chậm, hiểu vai trò của từng chiếc chiêng trong dàn, bởi một người sai nhịp có thể làm cả bài chiêng mất đi sự hài hòa.

Theo nghệ nhân Y Hiu Niê Kđăm, sau khi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO vinh danh, phong trào cồng chiêng từng rất sôi nổi. Tiếng chiêng vang lên trong nhiều sinh hoạt cộng đồng, các đội chiêng được duy trì ở nhiều buôn làng. Nhưng theo thời gian, hoạt động ấy dần thưa vắng. Nhiều đội chiêng ở thôn, buôn giải tán vì thiếu kinh phí. Nỗi băn khoăn lớn hơn của ông là sự thờ ơ đang xuất hiện ngay trong cộng đồng. Nhiều phụ huynh không muốn cho con học cồng chiêng vì cho rằng học xong cũng không kiếm được tiền. Lớp trẻ sau khi học xong ít có dịp thực hành, ít được tiếp cận kiến thức nâng cao nên dễ quên, dễ chán.

Công tác bảo tồn cần được quan tâm, đồng bộ hơn

Cần duy trì các lớp truyền dạy tại cộng đồng, có hỗ trợ tối thiểu để học viên và nghệ nhân yên tâm tham gia. Quan trọng hơn, cần bồi dưỡng thêm phương pháp sư phạm cho chính các nghệ nhân, những người am hiểu cồng chiêng nhưng không biết cách truyền dạy hiệu quả. Mỗi buôn làng cần có người đủ khả năng tự đứng lớp, tự duy trì đội chiêng của mình.