Trang phục phụ nữ Lô Lô. (Ảnh: NGỌC TRÂM)

Dân tộc Lô Lô

NDO - Người Lô Lô là một trong những dân tộc có trang phục phụ nữ đẹp và rực rỡ nhất, được làm thủ công rất cầu kỳ, công phu và còn lưu truyền cách làm cho đến nay.

1. Nguồn gốc lịch sử:

Người Lô Lô ở Việt Nam có quan hệ mật thiết với người Di ở Trung Quốc. Người Lô Lô đến Việt Nam đầu tiên tại vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) và Phong Thổ (Lai Châu), sau đó một bộ phận ở Hà Giang chuyển sang Bảo Lạc, Cao Bằng.

Về tộc danh: Ngoài tên gọi Lô Lô, còn có các tên khác như Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.

Dân tộc Lô Lô gồm các nhóm Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa. Ngoài hai nhóm trên, còn có thêm nhóm Lô Lô Trắng.

2. Dân số: Theo Kết quả điều tra thu thập thông tin về tình trạng kinh tế xã hội của 54 dân tộc thiểu số năm 2019 của Ủy ban Dân tộc Việt Nam – Tổng cục Thống kê, dân số người Lô Lô tính đến thời điểm 1/4/2019 là 4.827 người, trong đó nam là 2.413 người, nữ là 2.414 người.

3. Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến

4. Phân bố địa lý: Phân bố tập trung ở Cao Bằng và Hà Giang, ngoài ra còn ở một số tỉnh miền trung và Tây Nguyên như Bình Định, Gia Lai.

5. Đặc điểm chính:

- Nhà ở: Nhà ở truyền thống gồm ba loại nhà khác nhau: nhà nền đất, nhà sàn và nhà nền sàn nửa đất.

- Cấu trúc gia đình: Phụ hệ.

Dân tộc Lô Lô ảnh 1
Trang phục của phụ nữ và nam giới Lô Lô đều rất sặc sỡ. (Ảnh: NGỌC TRÂM)

- Trang phục truyền thống: Y phục nữ có khăn, áo, quần, tạp dề, dây lưng, xà cạp, váy, giày. Phụ nữ Lô Lô thường dùng khăn quấn đầu. Khăn của phụ nữ Lô Lô ở Hà Giang có màu đen hoặc chàm với nhiều họa tiết, màu sắc khác nhau ở cuối mỗi đầu khăn và chính giữa khăn. Phụ nữ Lô Lô ở Cao Bằng lại sử dụng hai loại khăn là khăn trắng và khăn đen. Hai loại khăn này không được trang trí, thêu thùa gắn tua và các hoa văn.

Phụ nữ Lô Lô Đen mặc áo cổ vuông, xẻ ngực cài khuy bằng vải hoặc đồng. Ống tay áo được trang trí nhiều họa tiết hoa văn hoặc đính kèm nhiều miếng vải màu khác nhau. Sống lưng áo trang trí các họa tiết hình vuông nhỏ.

Phụ nữ Lô Lô Hoa mặc áo cổ tròn, màu đen hoặc chàm, xẻ ngực. Toàn bộ áo được thêu đính kèm những miếng vải với các màu sắc đỏ, xanh, vàng, trắng.

Dân tộc Lô Lô ảnh 2

(Ảnh: TRẦN THÀNH ĐẠT)

Váy là một điểm nhấn trong bộ trang phục truyền thống của người Lô Lô Đen, chia làm ba lớp: lớp ngoài cùng là những dải tua rua gắn với chùm bông len đủ màu sắc; lớp thứ hai là tấm vải quấn váy chắp nhiều mảng hoa văn; lớp trong cùng là chiếc váy xèo xếp ly màu đen. Hoa văn phổ biến trên vải quấn váy là hoa văn pá pú.

Nam giới mặc quần áo vải đen, áo kiểu tứ thân, cài khuy bên nách phải, quấn khăn chàm.

- Ẩm thực: Món ăn của người Lô Lô trong ngày thường gồm các món có tinh bột như cơm tẻ, cơm ngô, xôi, mèn mén, cơm lam; những món giàu chất đạm và béo như thịt, cá, trứng, đậu lạc, vừng, nhộng ong; món ăn chế biến từ các loại rau, củ, quả. Trong các dịp lễ tết, người Lô Lô chế biến nhiều món khác như tiết canh, thịt quay, bánh trôi, bánh rán, bánh chưng. Tết đến, người Lô Lô ở Mèo Vạc gói bánh chưng bằng ngô nếp.

Trong sinh hoạt hằng ngày, người Lô Lô có thói quen uống rượu và có tập quán mời rượu khi khách đến chơi.

Dân tộc Lô Lô ảnh 3
Các thiếu nữ Lô Lô (Mèo Vạc, Hà Giang) trong nghi lễ cầu mưa. (Ảnh: NGỌC TRÂM)

- Lễ tết: Người Lô Lô ăn Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt, ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng bảy...

- Tín ngưỡng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.

- Điều kiện kinh tế: Trồng lúa, ngô, hoa màu, rau củ, cây ăn quả trên nương, chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắt, hái lượm, đánh bắt cá. Người Lô Lô còn có một số nghề thủ công như đan lát, làm ngói, thêu thùa… Hoạt động thương mại, trao đổi hàng hóa trong đời sống người Lô Lô cũng khá phát triển.

Theo “Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019” của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê, Tỷ lệ hộ nghèo: 53,9%; Tỷ lệ hộ cận nghèo: 14,4%; Tỷ lệ thất nghiệp: 0,22%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ: 6,9%; Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực phi nông nghiệp: 14,5%; Tỷ trọng lao động làm công việc quản lý hoặc CMKT bậc cao và trung: 3,4%; Tỷ lệ hộ làm nghề thủ công truyền thống: 3,17%.

Dân tộc Lô Lô ảnh 4

(Ảnh: TRẦN THÀNH ĐẠT)

- Điều kiện giáo dục: Theo “Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019” do Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê thực hiện, Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông: 56,0%; Tỷ lệ người đi học chung cấp tiểu học: 102,1%; Tỷ lệ người đi học chung cấp trung học cơ sở: 76,8%; Tỷ lệ người đi học chung cấp trung học phổ thông: 34,3%; Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường: 21,0%.

(Nguồn:

- Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật)

- Đặc trưng cơ bản của 54 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê)

- Website Ủy ban Dân tộc - Kết quả điều tra thu thập thông tin về tình trạng kinh tế xã hội của 54 dân tộc Việt Nam)

● Français: L’ethnie Lô Lô