Trang phục truyền thống của phụ nữ Cờ Lao (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Dân tộc Cờ Lao

NDO - Là một trong 16 dân tộc rất ít người ở Việt Nam, hiện nay nhờ các chính sách hỗ trợ tổng thể của Đảng và Nhà nước đến từng hộ gia đình đã góp phần giúp đồng bào Cờ Lao phát triển mọi mặt đời sống, xã hội.

1. Nguồn gốc

Dân tộc Cờ Lao là một trong những dân tộc có dân số ít ở Việt Nam. Người Cờ Lao ở Việt Nam vốn từ Trung Quốc di cư sang. Trải qua các thời kỳ lịch sử, các nhóm Cờ Lao đã di cư dần xuống phía Nam rồi vào Việt Nam. Những người Cờ Lao đầu tiên tới Việt Nam sớm nhất là cách đây khoảng từ 150 đến 200 năm. Những đợt di cư cuối cùng của họ đã chấm dứt cách đây khoảng 60 - 80 năm.

2. Dân số

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, dân số dân tộc Cờ Lao là 4.003 người, trong đó nam là 2.005 người, nữ là 1.998 người.

3. Phân bố địa lý:

Dân tộc Cờ Lao chỉ cư trú ở tỉnh Hà Giang, gồm vùng cao núi đá, núi đất (các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì), vùng giữa (huyện Yên Minh) và vùng thấp (hai huyện Vị Xuyên, Bắc Quang).

Dân tộc Cờ Lao ảnh 1

Người Cờ Lao vẫn giữ được những nếp nhà truyền thống. (Ảnh: TTXVN)

4. Ngôn ngữ:

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Pu Péo (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Trước đây, các nhóm địa phương có phương ngữ khác nhau nhưng hiện nay đa số người Cờ Lao đỏ, Cờ Lao xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ của mình nữa. Tuỳ theo quá trình tiếp xúc, cộng cư họ quen sử dụng tiếng Quan hoả, tiếng Nùng hay tiếng Pu Péo, Hmông.

Giáo dục: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông chiếm 58,2%, tỷ lệ đi học chung của trẻ em ở cấp tiểu học chiếm 103,4%. Tỷ lệ đi học chung của trẻ em ở cấp trung học cơ sở là 83,1%, tỷ lệ đi học chung của trẻ em ở cấp trung học phổ thông là 37,4%, tỷ lệ trẻ em ngoài trường là 17,6%.

5. Đặc điểm chính

Thiết chế xã hội: Dưới thời Pháp thuộc, các chủ đất - những người có công khai phá lập làng, trưởng dòng họ được chính quyền bổ nhiệm giữ chức mã phải cai quản 1 - 2 làng hoặc mù lao cai quản vài gia đình. Ngày nay, hệ thống quản lý hành chính cơ sở đã được thực hiện ở tất cả các cấp, trong đó làng của người Cờ Lao là cấp cơ sở của tổ chức hành chính cấp xã.

Dân tộc Cờ Lao ảnh 2
Nghi lễ cúng Hoàng Vần Thùng, vị Thành Hoàng của dân tộc Cờ Lao ở xã Túng Sán, Hoàng Su Phì. (Ảnh: Báo Hà Giang)

Tôn giáo, tín ngưỡng: Có thể nói, so với các yếu tố văn hóa vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng của người Cờ Lao rất ít thay đổi. Đồng bào vẫn giữ quan niệm về ba bộ phận cấu thành nên thế giới (trời, đất và nước), tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh.

Nhà ở: Đồng bào Cờ Lao ở nhà đất, phổ biến là ba gian, hai chái. Phần lớn nhà ở của người Cờ Lao là nhà trình tường, lợp ngói máng.

Trang phục: Bộ y phục của nam giới gồm có mũ, áo và quần. Quần màu chàm hoặc màu đen, ống rộng, dài đến mắt cá chân, không có túi. Áo màu chàm hay màu đen dạng cổ đứng, xẻ ngực, có khuy bằng vải. Áo xẻ tà, thường có bốn túi không nắp.

Trang phục nữ, chủ yếu sử dụng quần, khăn, áo, dây lưng, xà cạp và ở một số địa phương đồng bào còn sử dụng tạp dề như người H’Mông.

Ẩm thực: Về ăn, thức ăn của người Cờ Lao chủ yếu được chế biến từ các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi. Thức ăn được chế biến từ các sản phẩm chăn nuôi gồm gà, lợn và dê.

Nghệ thuật: Người Cờ Lao vẫn truyền lại cho con cháu những câu chuyện kể về lịch sử di cư, sự tích chiếc váy cổ truyền, việc cưới xin trước đây, chuyện bị đánh rụng răng.

Dân tộc Cờ Lao ảnh 3

Ruộng nước và nương núi đất, trồng lúa là hoạt động sản xuất chính của người Cờ Lao (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

6. Điều kiện kinh tế

Nhóm Cờ Lao xanh và Cờ Lao trắng phân bố ở hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc sống dựa chủ yếu vào nương định canh, gieo trồng ngô ở hốc núi đá. Nhóm Cờ Lao đỏ phân bố ở hai huyện Hoàng Su Phì và Yên Minh, nơi có nhiều núi đất và thung lũng, làm ruộng nước và nương núi đất, trồng lúa là chính. Ngoài cây lương thực chính, người Cờ Lao còn trồng nhiều loại đậu, rau xanh và các loại cây trồng khác. Đối với mọi gia đình Cờ Lao, đây là hoạt động kinh tế không thể thiếu. Chăn nuôi không chỉ chủ yếu cung cấp sức kéo và phân bón cho sản xuất, thực phẩm cho các hoạt động liên quan đến ma chay, cưới xin, lễ tết.

Cũng như chăn nuôi, thủ công gia đình chỉ là nghề phụ. Nghề mộc là hoạt động thủ công gia đình đã có từ lâu đời và khá phát triển trong các gia đình Cờ Lao. Nghề nấu rượu ngô không phải là nghề truyền thống nổi trội trong cộng đồng người Cờ Lao, rượu ngô của đồng bào đã trở thành một mặt hàng được nhiều người biết đến.

Hái lượm, cũng như săn bắn và đánh bắt thủy sản, thay vì đóng vai trò là một trong các hoạt động sinh kế chủ yếu như trước đây, hái lượm cũng chỉ là một hoạt động bổ trợ cho hoạt động nông nghiệp của đồng bào Cờ Lao.

● Français: L’ethnie Cờ Lao

Theo Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật) - Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê)