Dặm dài nghĩa tình Thượng Lào
Cứ mỗi dịp Bunpimay - Tết cổ truyền trong văn hóa Lào, Trung tá Nguyễn Cao Phong lại được Đại sứ quán Lào tại Việt Nam mời đến tham dự nghi lễ Sou khoẳn. Trong không khí thắm tình hữu nghị, ông và những vị khách Việt Nam chìa cổ tay, để những người bạn Lào thắt lên đó sợi chỉ may mắn. Hơn cả lời chúc bình an, với ông Phong, đó còn là nút thắt tình thâm giữa hai dân tộc đã được tôi luyện qua lửa đạn thời hoa lửa.
Mối duyên của ông Phong với xứ sở triệu voi phải kể từ những năm 1960. Ngày ấy, với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, chàng thanh niên Nguyễn Cao Phong rời xa gia đình, lên đường nhập ngũ. Tháng 8/1964, ông bắt đầu những ngày tháng huấn luyện tại Trung đoàn 14, Sư đoàn 316 đóng tại Mộc Châu, Sơn La. Sau 4 tháng rèn quân, cuối năm 1964, người lính trẻ nhận mệnh lệnh đặc biệt, hướng về phía Tây, sang giúp nước bạn Lào anh em.
Sau những ngày băng rừng, lội suối qua dải biên thùy, ông cũng đặt chân lên đất Sầm Nưa với đôi chân lấm bùn và chiếc ba-lô nặng trĩu quân trang và ý chí thép. Tại “thủ đô kháng chiến” trên đất Thượng Lào này, ông bắt đầu dấn thân vào những năm tháng gian khổ nhưng hào hùng. Trong những năm tháng ấy, mỗi người lính như ông Phong đều thấu hiểu được sâu sắc ý nghĩa của chiến lược “đánh giặc từ xa” của quân đội ta. Cách mạng Lào còn non trẻ, trong khi đó, lực lượng thân phương Tây ráo riết biến Thượng Lào thành căn cứ quân sự nhằm chia cắt chiến trường Đông Dương. Với dải biên giới là xương sống của toàn khu vực, nếu để nước bạn rơi vào tay địch, tuyến vận tải chiến lược của ta sẽ bị bóp nghẹt.
Vì thế, mỗi mét hào, mỗi công sự mà ông Phong cùng đồng đội miệt mài đào giữa lòng đất Sầm Nưa không chỉ làm bàn đạp vững chắc cho những cuộc tấn công. Đó là những mắt xích của lá chắn thép bảo vệ miền bắc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa.
Đối diện với tử thần giấu mặt
Ông Phong kể lại, thứ đáng sợ nhất đối với những người lính tình nguyện không đến từ súng đạn công khai, mà đến từ âm mưu nham hiểm của đám phỉ len lỏi tinh vi giữa đồng bào người dân tộc thiểu số. Ban ngày, chúng giả dạng thành những người dân lành, trà trộn vào các bản làng. Chúng không ngừng rêu rao những lời xuyên tạc nham độc rằng bộ đội tình nguyện sang để cướp bóc và kiểm soát đời sống bà con. Kẻ thù lợi dụng triệt để sự nhẹ dạ và thiếu thông tin của người dân vùng cao để gieo rắc nỗi sợ hãi và lòng nghi kỵ. Mục đích của chúng là biến mỗi bản làng thành một pháo đài cô lập bộ đội ta, biến lòng dân thành nơi trú ẩn cho những âm mưu phá hoại. Cuộc chiến dân vận vì thế trở thành một trận đối đầu cân não, nơi người lính phải dùng chính sự liêm khiết và lòng chân thành để đánh bại những lời dối trá xuyên tạc.
Không những thế, đêm xuống, chúng lén đặt bẫy trên khắp các nẻo đường, từ lối mòn dẫn vào bản đến vòi nước sinh hoạt. Ngay cả cửa hang đá - nơi trú quân tưởng như an toàn nhất, cũng đầy rẫy những con mắt tử thần đang rình rập. Mìn chúng rải không nằm lộ thiên, mà ẩn dưới lớp lá khô hay bùn lầy, khiến mắt thường khó có thể nhận biết. Đó là nỗi ám ảnh khiến ông Phong vẫn rùng mình mỗi khi nhắc lại mang tên mìn Zip. Loại mìn này có vỏ nhựa, tuy nhỏ chỉ bằng hộp cao sao vàng, nhưng sức sát thương lại vô cùng tàn bạo. Nó không lấy mạng tức khắc mà khiến vết thương hoại tử thần tốc, ăn dần lên phía trên như nọc độc rắn. Hay mìn cóc to bằng ống bơ lại có sức công phá mạnh hơn. Khi vấp phải, mìn nảy lên ngang tầm bụng, rồi mới phát nổ, xé toạc cơ thể người lính trong tích tắc.
Ánh mắt ông Phong trĩu nặng khi nhắc về những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi rừng thẳm Thượng Lào. Giữa đại ngàn, cái chết vì bệnh tật, thú dữ hay rắn độc vốn đã đáng sợ. Song sự hy sinh dưới bàn tay nham hiểm của kẻ thù còn để lại nỗi uất nghẹn khôn nguôi. Trong điều kiện thiếu thốn của trạm quân y tiền phương, các bác sĩ phải đưa ra quyết định nghiệt ngã, tháo khớp ngay lập tức để giữ mạng sống. Cuộc phẫu thuật diễn ra ngay dưới ánh đèn tù mù, tiếng cưa xương rợn người hòa cùng tiếng nghiến răng chịu đựng của người lính tạo nên một khung cảnh bi tráng đến nghẹt thở. Có những người dù đã chấp nhận hy sinh một phần máu thịt, nhưng vì vết loét lan quá nhanh, quân y phải tháo khớp lần hai lên tận đầu gối. Nhiều chiến sĩ đã không thể vượt qua cơn đau thấu xương tủy ấy, họ trút hơi thở cuối cùng ngay trên bàn mổ dã chiến, để lại nỗi đau thắt lòng cho những người ở lại.
Chân thành nối nhịp cầu tin yêu
Trước những lời đồn thất thiệt của đám chống phá cách mạng, bộ đội tình nguyện Việt Nam chọn cách đối diện bằng lòng chân thành và kỷ luật sắt đá. Ông Phong cùng đồng đội luôn nằm lòng nguyên tắc “Không lấy của dân dù là cái kim, sợi chỉ”. Những người lính hiểu rằng, muốn đập tan luận điệu xuyên tạc của phỉ, trước hết phải chiếm trọn được niềm tin trong lòng dân.
Ông Phong còn nhớ, một lần một cô gái trẻ trong bản đánh rơi chiếc khuyên tai bằng vàng khi đang rửa mặt tại đường ống dẫn nước từ thượng nguồn về. Nhằm ngăn chặn việc tung tin ác ý của đám phỉ rằng, bộ đội Việt Nam đã lấy trộm vật báu của dân, các chiến sĩ lao vào tìm kiếm cuộc tìm không phút nghỉ ngơi. Dẫu biết, hy vọng vô cùng mong manh khi dòng nước chảy xiết và lớp bùn dưới chân dày đặc, các chiến sĩ dùng tay không bới từng lớp bùn nhão nhoét. Sau nhiều giờ đồng hồ đào bới, một ánh vàng le lói bất ngờ hiện ra từ sâu dưới lớp bùn lầy. Tiếng reo hò phá tan sự tĩnh lặng của đại ngàn. Khi chiếc khuyên tai được rửa sạch và trao tận tay cô gái trước sự chứng kiến của dân bản, mọi nghi kỵ qua lời xuyên tạc của phỉ trong lòng bà con bỗng chốc tan thành mây khói. Cô gái trẻ rưng rưng xúc động, còn bà con thì vây quanh các chiến sĩ trong niềm tin yêu tuyệt đối. Trận chiến dân vận ấy đã thắng lợi bằng sự liêm khiết và cái tâm trong sáng của người lính bộ đội Cụ Hồ.
Từ những việc như thế, tình nghĩa giữa người dân và bộ đội càng thêm thắt chặt, bà con coi bộ đội tình nguyện như những người thân trở về từ phía bên kia biên thùy. Theo hồi ức của ông Phong, nguồn lương thực của các ông thời bấy giờ vô cùng thiếu thốn và phụ thuộc nhiều vào tiếp tế từ Việt Nam. Cuộc sống vùng cao của người dân bấy giờ còn bộn bề nghèo khó. Khoai sắn không đủ no, nhưng có nông sản gì quý giá, bà con đều để dành cho các chiến sĩ. Khi thì là vài bắp ngô vừa độ dẻo, lúc lại là gùi khoai sắn còn thơm mùi đất mới. Những món quà quê nghèo khó ấy chính là minh chứng cho một lá chắn thép không thể phá vỡ. Đó là trận địa lòng dân vững chắc. Kẻ thù có thể gài mìn vào lối đi, nhưng chúng dần thất bại trong việc gài sự ngờ vực vào tình đoàn kết Việt - Lào gắn bó.
Rời Thượng Lào năm 1966, ông Phong trở về Việt Nam và tiếp tục tiến vào chiến trường Tây Nguyên đầy khốc liệt. Thế nhưng, cơ duyên với đất nước triệu voi vẫn chưa dừng lại. Sau năm 1975, ông một lần nữa quay lại Lào với vai trò chuyên gia quân sự. Khi cuộc binh lửa khép lại, người lính già ấy vẫn không cho phép mình nghỉ ngơi. Những năm 1990 đến 2000, ông bắt đầu một hành trình mới - phối hợp với Đại sứ quán Lào đi tìm hài cốt liệt sĩ, đưa những người anh em năm xưa từ rừng sâu trở về với đất mẹ. Với ông Phong, đó không chỉ là nghĩa vụ của một người còn sống, mà là lời thề sắt son của một trái tim chưa bao giờ thôi thổn thức vì hai chữ đồng đội.
Trận địa của người lính tình nguyện không chỉ nằm ở những dải hào chiến đấu. Thử thách cam go nhất thực chất lại ẩn giấu phía sau những nếp nhà yên ả, nơi phe địch rắp tâm cài cắm quân phỉ vào sâu trong các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số.