Chế độ máy bay trên điện thoại trao cho bạn cơ hội ấy. Biểu tượng nhỏ của nó là một cái cầu chì ngăn bạn tiếp tục chạy theo các kích thích vô tận của màn hình thiết bị, và buộc phải giết thời gian theo một cách khác. Phổ biến nhất là nhìn ra ngoài ô cửa. Tôi để ý rằng khi máy bay cất - hạ cánh, hầu như ai ngồi trên máy bay cũng làm cái việc ấy, như một “nghi thức” nhỏ đã thành phản xạ, dù có ngồi gần cửa sổ hay không.
Họ tìm kiếm điều gì? Có thể chỉ là sự thích ứng nhất thời với khoảng trống mà điện thoại thông minh để lại. Có thể đơn thuần tò mò. Nhưng ô cửa ấy dường như chứa đựng cái mà cuộc sống thường ngày không làm được: Nó dễ tạo ra cảm xúc, nhờ sự chăm chú của lựa chọn duy nhất. Thống kê cho thấy 60% thời gian trên máy bay, hành khách chỉ… ngủ. 10% dành cho việc ăn, và phần còn lại, vâng, bạn biết rồi đó. Nhìn ra ngoài ô cửa.
Từ trên cao, mọi thứ tự nhiên kết nối với bạn. Bình thường cũng những cảnh vật ấy, bạn sinh hoạt hàng ngày, hòa vào nó, gặp gỡ, cười nói, thậm chí rơi lệ, BÊN-TRONG-NÓ. Bây giờ, ở độ cao hơn mười nghìn mét, qua ô cửa sổ, những mái nhà, cánh đồng, ngọn núi, mặt biển, mây bay… dường như đều mang một ý nghĩa nào đó, và tỉ mẩn nhìn chúng khác đi mỗi lần máy bay hạ cánh, giống như nhìn một con người lớn lên.
Lần đầu đặt chân đến Thành phố Hồ Chí Minh hơn một thập kỷ trước, tôi nhìn xuống thành phố về đêm lấp lánh ánh đèn và chằng chịt đường sá, tự dưng thấy… cô đơn. Nó có vẻ đông đúc và sôi động gấp nhiều lần Hà Nội, đủ gây choáng ngợp kể cả chỉ qua cái nhìn lén từ trên không.
Thời ấy, đi máy bay luôn phải liên hệ phòng vé, và cầm vé sớm vài ngày, có khi cả tuần. Cho đến khi tôi lên được chuyến bay đầu đời, chiếc vé đã hơi nhàu nhĩ, có lẽ vì khổ chủ cứ đêm đến lại hồi hộp sờ xem vé còn hay rơi đâu mất, chỉ sợ không được bay nữa nếu chẳng may đánh mất.
Xuống đến nơi, thứ đầu tiên tôi ăn là một tô hủ tíu gõ bán xuyên đêm ở Thủ Đức, giá 12 nghìn đồng. Tôi nhớ như in giá của nó, vì năm 2009 là một giai đoạn mà mọi người quay quắt vì tiền. Một năm trước đó, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng chục nghìn người mất việc.
Trên vỉa hè của một con đường đang bị xới tung lên để chuẩn bị đổ nhựa, tôi ngồi ăn xì xụp giữa những thợ thuyền, công nhân tan ca muộn, trong ánh điện đường nhập nhoạng. Tự nhiên thấy mất luôn cái cảm giác phù hoa gợn sóng trong tâm trí khi từ máy bay nhìn xuống. Những thân phận này và không khí đặc quánh lo âu này có lẽ là sự diễn dịch của các bản tin về khó khăn kinh tế thời điểm ấy.
Đấy có lẽ là nơi mà từ trên cao, tôi đã không nhìn thấy, trong hàng vạn ánh đom đóm dệt trên nền đô thị. Khi còn nhìn nó qua ô cửa, giữa tôi và thành phố này vẫn có một khoảng cách diệu vợi. Nhưng vào khoảnh khắc ngồi xuống và ăn một tô hủ tiếu gõ, tôi nghĩ rằng mình có thể là một phần của nó, giữa những con người dường như chung một nỗi lòng. Dù thế, sau sự dễ chịu ban đầu vì đồng cảm, là cảm giác hơi cay đắng: Sự khó khăn có “hình thù” rõ ràng quá, dù không ai than thở gì với ai.
Sau này, tôi đã trở lại nhiều lần, và cảm giác xa cách vẫn tồn tại, khi ma trận của những ánh đom đóm cứ ngày một mở rộng và chúng chạy loang loáng trong tưởng tượng với một tốc độ khủng khiếp. Nhưng vượt qua cảm giác hơi xa lạ ấy, là hy vọng rằng cuộc sống đang khấm khá hơn. Chỗ vỉa hè tôi ngồi ăn hủ tiếu gõ ngày xưa nay là mặt tiền của một phòng khám nha khoa lớn, với đèn điện sáng trưng. Nghĩ theo hướng này thì vẻ xa cách với nhịp sống quá nhanh cũng có cái đẹp của nó.
Ô cửa sổ máy bay là nơi chúng ta thường lãng mạn hóa các ý tưởng và góc nhìn. Tôi đã ngây ngất khi nhìn những đường cong dọc bờ biển Đà Nẵng, từ trên cao hiện ra như khuôn mặt một con người, xa hơn một chút là sông Thu Bồn, giống như chân mày, dẫn nước từ cửa biển chảy qua Quảng Nam. Tôi chìm vào vẻ đẹp miên man và hơi bí ẩn của sông Hồng khi máy bay hạ dần độ cao xuống Hà Nội, cũng như say đắm ngắm nhìn miền Tây với mạng lưới sông và kênh chằng chịt như một mê cung nước lấp lánh, len qua mầu xanh của những vườn dừa và trái cây. Tất cả đều làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc trên phương diện một con người nhận được những báu vật dành cho tâm hồn.
Nhưng sau hàng trăm lần hạ cánh trong cuộc đời, suốt mọi miền của Tổ quốc, sống giữa những thân phận và ước ao của họ, tôi cũng tìm kiếm thêm một vẻ đẹp khác, ngoài tự nhiên: Liệu ở đây cuộc sống của mọi người có tốt lên không. Đôi khi tín hiệu chỉ đơn giản là một ánh đom đóm xuất hiện thêm trên bản đồ, có thể nhận ra từ độ cao hàng nghìn mét.
Đôi lúc điều này gây phản tác dụng: Chúng ngắt tôi khỏi các vẻ đẹp thuần tự nhiên. Người dân ở đây sống bằng gì, từ vẻ đẹp ấy? Họ có cảm thấy tốt lên qua thời gian? Cách nhìn này có vẻ thực dụng, và làm cho bạn cảm thấy hơi day dứt. Chẳng lẽ cứ ngắm nhìn một thứ nào đó là ngay lập tức đầu mối của sợi dây kinh tế hiện ra luôn?
Nhưng dù sao từ ô cửa ấy, tôi khám phá ra hai khía cạnh kia của tâm hồn mình như thế. Không biết cách nhìn nào là tốt hơn, hoặc có lẽ cả hai đều tốt. Vẻ đẹp làm bạn hài lòng hơn với nội tâm, còn sự đồng cảm với tha nhân làm cho chúng ta cảm thấy có ý nghĩa hơn. Không phải vẻ đẹp nào cũng có ý nghĩa, và không phải ý nghĩa nào cũng cần một vẻ đẹp bề ngoài... ■