Nhà Việt Nam học - GS, TS Furuta Motoo:

Tôi thấy mình đã thật sự “thuộc về” Việt Nam

Là một học giả Nhật Bản, GS, TS Furuta Motoo đã dành hơn 50 năm của cuộc đời mình gắn bó với Việt Nam. Ông nổi danh là nhà Việt Nam học chuyên sâu trong các lĩnh vực lịch sử chính trị, văn hóa, đặc biệt là về Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người Việt Nam.

Nhà Việt Nam học - GS, TS Furuta Motoo
Nhà Việt Nam học - GS, TS Furuta Motoo

Tháng 7 vừa qua, GS, TS Furuta Motoo đã ra mắt cuốn sách mới “Việt Nam một góc nhìn từ Nhật Bản” (do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành). Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, ông đã chia sẻ cùng Nhân Dân hằng tháng.

Cơ duyên nào đã đưa ông tới Việt Nam và gắn bó lâu dài với đất nước này?

Khi tôi vào Đại học Tokyo, là thời điểm chiến tranh Việt Nam diễn ra ác liệt nhất. Kể cả trên báo chí Nhật Bản, phóng sự về chiến tranh Việt Nam cũng nhộn nhịp trên mặt báo hằng ngày, dường như cả thế giới đang chuyển động với trung tâm là Việt Nam. Tôi nghĩ rằng, nếu có thể hiểu được về đất nước Việt Nam trung tâm đó thì có thể dễ dàng hiểu về thế giới. Đó chính là lý do lớn nhất khiến tôi chọn Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của mình. Từ đề tài luận văn tốt nghiệp đại học vào năm 1972, tôi đã trở thành nhà Việt Nam học được hơn 50 năm. Tôi đã yêu Việt Nam và rất thủy chung với tình yêu bền bỉ hơn nửa thế kỷ.

Trong hành trình hơn nửa thế kỷ đồng hành cùng Việt Nam, có kỷ niệm hay khoảnh khắc nào khiến ông nhận ra mình đã thật sự “thuộc về” nơi này?

Tháng 4 năm 1977, tôi sang Hà Nội để dạy tiếng Nhật ở Trường đại học Ngoại thương. Đây là lần đầu tiên tôi cư trú lâu dài ở Việt Nam. Tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên lên lớp dạy cho sinh viên phiên dịch tiếng Nhật lớp 4 Trường đại học Ngoại thương. Khoảnh khắc đó khiến tôi cảm thấy mình đã thật sự “thuộc về” Việt Nam.

Trong quá trình nghiên cứu về Việt Nam tôi may mắn có cơ hội làm quen được nhiều người Việt Nam, có người thầy, có người bạn, có học trò v.v... Con người Việt Nam nói chung, các nhân vật cụ thể tôi đã làm quen nói riêng chính là Việt Nam trong trái tim của tôi, tài sản quý báu nhất của tôi.

Việt Nam đang chuẩn bị cho sự kiện trọng đại: Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Là người nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn lịch sử này của Việt Nam, Giáo sư nhìn nhận như thế nào về vai trò của Cách mạng Tháng Tám 1945 trong tiến trình giải phóng dân tộc của Việt Nam cũng như ở châu Á và thế giới?

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, khu vực Đông Nam Á bị Nhật Bản chiếm đóng. Khi Nhật bại trận, Đông Nam Á trở thành khu vực bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sớm nhất thế giới, trong đó đi đầu là Indonesia và Việt Nam. Sự kiện Tuyên ngôn độc lập Indonesia vào ngày 17/8/1945 và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là biểu hiện sớm nhất của tinh thần độc lập dân tộc, trở thành tinh thần chủ đạo của thế giới sau Thế chiến thứ II.

Theo Giáo sư, uy tín cá nhân và sự hiện diện đúng lúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò như thế nào trong việc Việt Nam giành và giữ chính quyền vào năm 1945?

Uy tín cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đóng vai trò rất lớn. Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mang tên mới Hồ Chí Minh, đã tranh thủ được sự ủng hộ các nước phe đồng minh thời đó. Về cả hai mặt này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam không ai sánh kịp được.

Ông cũng dành nhiều thời gian để nghiên cứu, điều tra điền dã về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam. Cảm nhận của ông như thế nào khi đối diện với một phần hiện thực lịch sử đau thương này?

Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện đau thương nhất và đáng tiếc nhất trong lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản. Đó là là thảm kịch diễn ra trong thời kỳ quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam. Hầu như mọi người Việt Nam đều biết đến sự kiện này và độ tàn khốc của nó. Tuy nhiên, ở Nhật Bản, chỉ có ít người biết đến nạn đói 1945 ở Việt Nam và có người biết đến nhưng lại không tin sự khủng khiếp đã từng diễn ra. Tôi cho rằng việc khắc phục tình trạng này là một trách nhiệm lớn đối với người Nhật Bản nghiên cứu Việt Nam như tôi.

Là một người Nhật Bản sinh ra trong bối cảnh hậu chiến, Giáo sư nghĩ gì về trách nhiệm của đất nước ông trong nạn đói năm 1945 ở Việt Nam?

Tôi nghĩ Nhật Bản là nước phải chịu trách nhiệm lớn nhất đối với thảm họa nạn đói lịch sử 1945 ở Việt Nam. Điều kiện thời tiết bất lợi sau vụ mùa thu đông năm 1944 đã trực tiếp gây ra nạn đói này, nhưng chiến tranh là nguyên nhân chính khiến thiệt hại trở nên vô cùng nghiêm trọng. Tài nguyên quan trọng nhất mà Nhật Bản cần ở Đông Dương là lúa gạo; nhưng cùng với việc đáp ứng yêu cầu cung cấp gạo từ phía Nhật, chính quyền thực dân Pháp còn phải bảo đảm nguồn lương thực cho chính mình nên đã thực hiện chế độ thu mua lúa gạo cưỡng chế, buộc nông dân phải bán lúa gạo với giá rẻ mạt. Do đó, gạo tích trữ để ứng phó với nạn đói ở nông thôn trở nên khan hiếm. Hơn nữa Nhật ép trồng trọt các loại hoa màu có tính sợi và tính dầu như đay, nên việc trồng ngũ cốc chống chọi với nạn đói cũng sụt giảm. Thông thường, miền bắc Việt Nam vẫn dựa vào việc nhập lúa gạo từ miền nam, nhưng năm 1945, các đoàn vận chuyển hàng hóa từ miền nam trở thành đối tượng ném bom nên gặp rất nhiều khó khăn. Những nguyên nhân như vậy chồng chất lên nhau, gây ra nạn đói nghiêm trọng ở miền bắc Việt Nam. Có thể khẳng định cuộc chiến tranh là nguyên nhân chính của nạn đói. Ai gây ra cuộc chiến này? Đó chính là phát xít Nhật.

gen-h-z679213442659423f6508109429ed5112df30686babc17-1752245534869299047685.jpg
Bìa cuốn sách “Việt Nam một góc nhìn từ Nhật Bản” vừa xuất bản của GS, TS Furuta Motoo.

Từ góc nhìn một người nghiên cứu, hiểu sâu về Việt Nam, Giáo sư cảm nhận ra sao về tinh thần khoan dung và hướng tới tương lai của người Việt Nam đối với những quốc gia từng gây tổn thương cho họ?

“Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” là khẩu hiệu khi Việt Nam cải thiện quan hệ ngoại giao những năm đầu 1990. Ở lĩnh vực này, nhận thức lịch sử nhiều khi trở thành yếu tố khiến quan hệ xấu đi. Trong bối cảnh đó, nước thể hiện tinh thần khoan dung rõ nhất là Việt Nam. Nhiều người Nhật Bản cũng đánh giá cao tinh thần tích cực này. Nhưng tôi nghĩ rằng người Việt Nam tỏ rõ tinh thần khoan dung không có nghĩa là phía gây ra tội ác quên mất những điều mình đã gây ra ở Việt Nam. Với khía cạnh này, các nhà Việt Nam học ở Nhật Bản vẫn cần tiếp tục cố gắng hơn nữa để người Nhật hiểu rõ hơn về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam.

Trong thời đại ngày nay, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng và phát triển nhanh chóng, Giáo sư thấy yếu tố nào của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn tiếp tục tác động tới tinh thần dân tộc hiện thời?

Đặc điểm nổi bật nhất của Cách mạng Tháng Tám là thể hiện rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời điểm có sự thay đổi lịch sử to lớn, đó là tháng 8 năm 1945. Việt Nam đang hướng tới một kỷ nguyên mới, xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng. Tôi tin rằng động lực quan trọng nhất hiện nay vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc bắt nhịp với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ.

Từng nhiều lần tiếp xúc với sinh viên, trí thức trẻ Việt Nam, theo ông, thế hệ trẻ hôm nay có đang hiểu đúng đắn và đầy đủ về lịch sử? Họ cần gì để tiếp nối được chiều sâu của lịch sử dân tộc?

Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch sử vẻ vang đáng tự hào. Khi xem qua sách giáo khoa lịch sử mới được biên soạn cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, ta có thể thấy nhiều nỗ lực đã được triển khai để khơi dậy niềm đam mê lịch sử trong giới trẻ. Tuy nhiên, khi trò chuyện với một số học sinh Việt Nam, tôi không nghĩ rằng kiến thức lịch sử Việt Nam của các em là đầy đủ. Theo cá nhân tôi, một trong những lý do là lịch sử đã trở thành “môn học thuộc lòng” hơn là “môn học tư duy”. Có rất nhiều “vấn đề cần suy ngẫm” trong lịch sử Việt Nam mà nhiều người trên thế giới vẫn đang tìm kiếm câu trả lời. “Tại sao Việt Nam chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ?” là một trong những vấn đề đó. Tôi hy vọng rằng các bạn trẻ ở Việt Nam sẽ tìm thấy những “vấn đề cần suy ngẫm” trong lịch sử đất nước mình.

Nếu có một thông điệp ngắn, súc tích mà Giáo sư muốn gửi tới độc giả Việt Nam, đặc biệt là trong dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, ông sẽ nói gì?

Tôi tin rằng các bạn trẻ chính là gương mặt đại diện của đất nước trên trường quốc tế. Hãy tự hào về bản sắc và lịch sử của mình; đồng thời mang tinh thần Việt Nam - kiên cường, mềm dẻo, thích ứng, lạc quan yêu đời - đến với thế giới nhân loại.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Có thể bạn quan tâm

PGS, TS Phạm Văn Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu Bảo tàng, Cục Quản trị (Văn phòng Trung ương Đảng)

Nơi lưu giữ di sản của nhân dân

Dự án xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu, rất khẩn trương, với mục tiêu hoàn thành vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2030).

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng kiểm tra an toàn bức xạ tại các đơn vị trên địa bàn. Ảnh | THANH HÀ

Những ý kiến tâm huyết của đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng

Với phương châm Đoàn kết-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển, Đại hội XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng công an tham gia Lễ Diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

Một phần tư thế kỷ XXI đã đi qua. Năm 2026 tiếp nối trong bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1/2026.

GS.TS Tạ Ngọc Tấn

“Văn kiện Ðại hội XIV của Ðảng được đổi mới để gần dân, dễ hiểu, dễ tổ chức thực hiện”

Khi công tác xây dựng các dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng bước vào giai đoạn hoàn thiện, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ phó Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện Đại hội XIV của Đảng dành cho Nhân Dân hằng tháng cuộc trao đổi.

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh trong bài | Thành Đạt

Ấn tượng 2025

Năm 2025 lùi lại phía sau như một cuốn phim quay chậm, đầy ánh sáng và những gam màu mạnh mẽ.

Làm tốt công tác quy hoạch góp phần thúc đẩy phát triển đô thị.

KHƠI THÔNG MẠCH NGUỒN PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

Nhiều năm trước, dự án khu đô thị Thủ Thiêm- biểu tượng cho khát vọng vươn lên của Thành phố Hồ Chí Minh, đã có lúc rơi vào tình trạng gần như “đứng yên” vì những vướng mắc trong quy hoạch.

Từ lợi thế kinh tế cảng biển, cảng Hải Phòng được kỳ vọng trở thành điểm đến toàn cầu.

Thành tựu 40 năm đổi mới khẳng định tầm vóc Việt Nam

Trước Đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế-xã hội diễn ra gay gắt. Sau gần 40 năm, nước ta đã vươn lên trở thành quốc gia có cơ đồ vững chắc, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế quốc tế không ngừng được khẳng định.

Ông Kwuyên Cil trò chuyện với người dân tổ dân phố B’ Nơr B.

Người “gỡ rối” dưới chân núi Lang Biang

Nam Tây Nguyên mùa nắng lạnh. Dã quỳ trải sắc vàng mênh mang núi đồi. Dưới chân núi Lang Biang, những căn nhà gỗ truyền thống và những ngôi biệt thự của người Cơ Ho ở tổ dân phố B’Nơr B như bản hòa ca đầy sức sống.

Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Ảnh | TTXVN

Lý luận về đường lối đổi mới

Gần 40 năm, kể từ tháng 12/1986, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã viết nên kỳ tích phát triển chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Bước vào Đại hội XIV, dấu mốc mở ra kỷ nguyên phát triển mới, Đảng ta lần đầu khẳng định, lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trụ sở mới của Bộ Ngoại giao được xây dựng tại số 2 Lê Quang Đạo (phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

CHỐNG LÃNG PHÍ PHẢI BẮT ÐẦU TỪ XÁC LẬP ÐÚNG ƯU TIÊN

Lãng phí không chỉ nằm ở tiêu xài hoang phí, mà còn ẩn trong cách ra quyết định, thiết kế chính sách, tổ chức bộ máy và sử dụng nguồn lực. Một trong những nguyên nhân sâu xa nhất chính là việc xác lập sai thứ tự ưu tiên, dẫn đến đầu tư dàn trải, chính sách chồng chéo và những lựa chọn kém hiệu quả.

Đường phố rực rỡ cờ hoa trong những ngày diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, nhiệm kỳ 2025-2030.

Đổi mới hình thức tuyên truyền, lan tỏa niềm tin

Công tác tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng được tổ chức triển khai sâu rộng, đồng bộ với nhiều hình thức đa dạng, cách làm sáng tạo ở nhiều địa phương trong cả nước.

Đồng chí Tạ Quang Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xuân Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Ðiểm sáng chuyển đổi số ở Ðồng Nai

Sau bốn tháng triển khai, hoạt động mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Đồng Nai ngày càng phát huy hiệu quả. Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn đồng chí Tạ Quang Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xuân Hòa - một điểm sáng về chuyển đổi số (CĐS).

Các đại biểu nghiên cứu tài liệu trên thiết bị điện tử tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh | Xuân Trường

Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh: Lan tỏa tinh thần đổi mới

Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2025-2030 thành công tốt đẹp. Ngay sau đại hội, các chương trình hành động được khẩn trương triển khai, thể hiện quyết tâm đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, kỳ vọng một nhiệm kỳ mới nhiều khởi sắc.

Bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành khóa mới tại Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Lai Châu, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh | TRẦN TUẤN

“Giữ mình chờ thời”

Mỗi dịp đại hội đảng, bầu cấp ủy, làm quy trình quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, thường có hiện tượng “im lặng khó hiểu”, “im lặng đáng sợ”, rồi bên ngoài râm ran, tiếng bấc tiếng chì, nhưng vào hội nghị thì người ta rất ngại nêu chính kiến.

Công nhân Công ty TNHH một thành viên Dệt 8-3 vận hành dây chuyền sản xuất sợi.

Thoát bẫy lao động giá rẻ

“Bẫy lao động giá rẻ” là tình trạng một quốc gia quá dựa vào nhân công rẻ để thu hút đầu tư và duy trì sức cạnh tranh.

Đại hội Đảng bộ phường Thượng Hồng (tỉnh Hưng Yên) lần thứ I, nhiệm kỳ 2025- 2030.

Bớt tính hàn lâm, tăng tính thực tiễn

Ðó là điều mà đại hội đảng bộ các cấp luôn luôn chú ý. Ðại hội nhiệm kỳ 2025-2030 càng phải chú ý hơn, vì đây là mốc son đánh dấu một thời kỳ mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, hùng cường của đất nước.

Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Ảnh | ĐĂNG KHOA

Tháng Tám, hướng về Ngày hội lớn

Hằng năm vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, trong lòng mỗi người dân đất Việt lại trào dâng những cảm xúc mới mẻ. Mùa thu năm 2025 gợi lên nhiều ý nghĩ về non sông, đất nước, về cuộc chuyển mình mang tầm vóc thời đại trong thế kỷ 20.

Đại hội Đảng bộ phường Kỳ Lừa (Lạng Sơn) lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Ðổi mới tư duy, nỗ lực bứt phá

Trong bối cảnh mới vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công việc còn bộn bề, thời gian chuẩn bị gấp, nhưng các Ðảng bộ phường, xã ở nhiều địa phương nỗ lực quyết tâm, tập trung cao độ tổ chức thành công Ðại hội nhiệm kỳ 2025-2030.

Chiến sĩ Hoàng Thượng Lân ở chiến trường.

Những người bạn mãi mãi tuổi 20

“Sáng mát trong như sáng năm xưa”... Ngày Quốc khánh 2/9 sắp đến, tôi bỗng nhớ câu thơ của nhà thơ Nguyễn Ðình Thi: “Nước chúng ta, Nước những người chưa bao giờ khuất”...