Trong các nhiệm vụ được Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị giao cho các bộ, ngành, có một nội dung tưởng như mang tính kỹ thuật nhưng được xem là một trong những điểm then chốt để tháo gỡ cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước, đó là xây dựng cơ chế thưởng theo tỷ lệ đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch.
Tại toạ đàm "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?" do Báo Nhân Dân vừa tổ chức, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), cho biết đối với nội dung phân phối lợi nhuận, Bộ Tài chính dự kiến đánh giá bước đầu vào cuối năm 2026 và nghiên cứu, đề xuất cơ chế trong năm 2027.
Theo lộ trình này, từ thời điểm dự kiến đề xuất cơ chế đến mốc năm 2030 - thời điểm Nghị quyết 79 đặt mục tiêu có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới - chỉ còn khoảng ba năm để tổ chức thực hiện. Điều đó cho thấy, cùng với hoàn thiện thể chế và cơ chế quản trị, việc sớm hình thành chính sách khuyến khích người quản lý doanh nghiệp gắn với hiệu quả kinh doanh sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra.
Thiết kế động lực
Theo các chuyên gia, xây dựng cơ chế thưởng đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch không đơn thuần là một chính sách đãi ngộ mà là giải pháp nhằm gắn lợi ích của người tạo ra giá trị với chính giá trị họ tạo ra - một nguyên tắc phổ biến trong quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Bộ hướng dẫn về quản trị doanh nghiệp nhà nước của OECD được sửa đổi năm 2024 coi cơ chế thù lao gắn với hiệu quả hoạt động là thông lệ quản trị tốt. Đồng thời cảnh báo hai thái cực cần tránh: mức thù lao thấp hơn thị trường sẽ cản trở việc tuyển dụng nhân sự có năng lực, còn mức quá cao lại dễ tạo tranh cãi và sinh ra những động cơ lệch khỏi lợi ích dài hạn của doanh nghiệp. Điểm mấu chốt nằm ở chỗ tìm được điểm cân bằng, chứ không phải né tránh vấn đề.
Đây cũng là một trong những nội dung có liên quan trực tiếp đến mục tiêu Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị đặt ra là đến năm 2030, 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp theo thông lệ OECD. Theo nhiều ý kiến, Nhưng nếu chỉ áp dụng phần khung quản trị mà bỏ qua phần cơ chế đãi ngộ gắn với hiệu quả kinh doanh khó để cho chuẩn mực này phát huy hiệu quả trên thực tế.
Tại tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, cho rằng bài toán động lực tại doanh nghiệp nhà nước thực chất là vấn đề "chủ sở hữu - người đại diện", vốn đã được kinh tế học nhận diện từ lâu, và là vấn đề chung của mọi nền kinh tế có khu vực doanh nghiệp nhà nước chứ không riêng Việt Nam.
Theo ông, ở doanh nghiệp tư nhân, mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh và lợi ích của người điều hành thường được thiết lập trực tiếp thông qua sở hữu. Ở doanh nghiệp nhà nước, mối liên hệ ấy phải được thiết lập bằng thể chế - và chừng nào thể chế chưa hoàn chỉnh thì khoảng trống vẫn còn. Đây là bài toán kỹ thuật về thiết kế cơ chế, không phải câu chuyện phẩm chất cá nhân.
Hệ quả rõ nhất của một cơ chế chưa hoàn chỉnh là sự bất đối xứng giữa rủi ro và phần thưởng. Theo phân tích của ông, đi vào đột phá đồng nghĩa với đi vào con đường chưa rõ ràng; trong khi kết quả tích cực chưa gắn với đãi ngộ tương xứng thì kết quả bất lợi lại kèm theo trách nhiệm rõ ràng. Với cấu trúc như vậy, lựa chọn thận trọng trở thành lựa chọn hợp lý.
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh dẫn một dẫn chứng đã hơn mười năm nhưng vẫn còn nguyên sức nặng. Một hãng hàng không trong nước khi đó dự báo giá nhiên liệu tăng nên tham gia công cụ phòng ngừa rủi ro giá - mua trước ở mức thấp để bảo vệ tài sản nhà nước. Thị trường sau đó diễn biến ngược lại, gây thiệt hại, và những người thực hiện bị xử lý.
“Đó là rủi ro thị trường, không phải sai phạm. Nhưng hệ quả kéo dài đến tận hôm nay: các doanh nghiệp khác nhìn vào và từ bỏ luôn công cụ ấy, quay về cách an toàn là giá bao nhiêu mua bấy nhiêu. Một công cụ thị trường bị loại khỏi bàn làm việc, không phải vì nó sai, mà vì không ai muốn là người tiếp theo”, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh chia sẻ.
Những gì luật mới đã tháo gỡ
Cần ghi nhận rằng hệ thống pháp luật mới về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có hiệu lực từ tháng 8/2025, đã tạo chuyển biến đáng kể theo đúng hướng này.
Theo thông tin từ Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn nay được xem xét trên cơ sở tổng thể danh mục đầu tư chứ không phải từng dự án riêng lẻ. Đây là thay đổi quan trọng, bởi bản chất của hoạt động đầu tư là có dự án thắng có dự án thua, và đánh giá từng dự án một chính là cách chắc chắn nhất để triệt tiêu tinh thần thử nghiệm. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao được tách riêng để đánh giá, không tính chung vào hiệu quả sản xuất kinh doanh thông thường.
Nhưng những thay đổi ấy thuộc nhóm gỡ bỏ rào cản - làm cho việc chấp nhận rủi ro bớt nguy hiểm. Chúng chưa tạo ra lực đẩy. Khoảng cách giữa "không bị phạt khi thất bại" và "được hưởng khi thành công" vẫn còn nguyên.
Một trong những nội dung đang được cơ quan quản lý nghiên cứu là cơ chế chia sẻ lợi nhuận vượt mục tiêu. Mô hình này đã được Trung Quốc vận hành cơ chế tương tự cho khối doanh nghiệp nhà nước, với bộ hướng dẫn nghiệp vụ do Ủy ban Quản lý và giám sát tài sản nhà nước ban hành từ đầu năm 2021.
Theo đó, doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu thống nhất một mức lợi nhuận mục tiêu cho năm tài chính. Phần lợi nhuận thực hiện vượt trên mức mục tiêu đó được xác định là lợi nhuận vượt. Từ phần vượt này, doanh nghiệp trích ra theo một tỷ lệ đã thỏa thuận trước để phân phối cho những người trực tiếp tạo ra kết quả.
Để bảo đảm khách quan, mức lợi nhuận mục tiêu không do doanh nghiệp tự xác định mà được xây dựng trên cơ sở chiến lược phát triển, kết quả hoạt động các năm trước, và mức lợi nhuận bình quân của ngành, đồng thời không được thấp hơn ngưỡng tham chiếu ngành. Điều này loại trừ khả năng đặt kế hoạch thấp để dễ vượt.
Ngoài ra, khoản chia sẻ được chi trả giãn trong ba năm, với tỷ lệ chi trả năm đầu bị giới hạn. Cách này khiến người quản lý phải quan tâm đến kết quả của các năm tiếp theo, thay vì dồn sức cho một năm.
Đáng chú ý với các doanh nghiệp công nghệ, bộ hướng dẫn của Trung Quốc còn cho phép cộng ngược chi phí nghiên cứu phát triển vào lợi nhuận khi xác định phần vượt, và ưu tiên phân phối cho đội ngũ kỹ thuật, nghiên cứu. Nói cách khác, doanh nghiệp đầu tư mạnh cho nghiên cứu không bị thiệt khi tính thành tích - một cách xử lý trực tiếp mâu thuẫn giữa đầu tư dài hạn và chỉ tiêu lợi nhuận ngắn hạn.
Khi động lực đến từ nơi khác
Có một trường hợp mà cả các chuyên gia tọa đàm đều nhắc tới, và nó cho thấy vấn đề theo cách gián tiếp nhưng rõ ràng.
Tiến sĩ, Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, dẫn Viettel như điển hình về vai trò tiên phong: từ đơn vị xây lắp chuyển thành doanh nghiệp dịch vụ viễn thông, rồi thành doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao. Điều ông quan tâm không phải quy mô mà là cơ chế bên trong - doanh nghiệp này gắn được sứ mệnh của mình với sứ mệnh quốc gia, xây dựng được văn hóa và tinh thần cống hiến, nhờ đó khắc phục được phần nào bài toán chủ sở hữu - người đại diện.
Tiến sĩ, Nguyễn Tú Anh bổ sung yếu tố thứ hai là kỷ luật quân đội, đồng thời lưu ý rằng đây là điều các doanh nghiệp nhà nước khác chưa có được.
Kết quả kinh doanh năm 2025 cho thấy Viettel đạt doanh thu hợp nhất hơn 223.000 tỷ đồng, tăng 15,2%; lợi nhuận trước thuế đạt 57.688 tỷ đồng; nộp ngân sách 42.290 tỷ đồng; doanh thu từ các thị trường nước ngoài tăng 23,9% - mức cao nhất trong 9 năm.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, những yếu tố như văn hóa doanh nghiệp, tinh thần cống hiến hay đặc thù quản trị của Viettel rất khó nhân rộng thông qua chính sách. Trong khi đó, cơ chế thưởng vượt kế hoạch lại là thứ có thể thiết kế, có thể áp dụng đồng loạt, có thể đo lường.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ, Nguyễn Đình Cung, ngay cả những doanh nghiệp đã hình thành được động lực nội tại cũng vẫn cần có cơ chế khuyến khích phù hợp. Ông cho rằng nhiều trường hợp thành công vẫn còn dư địa phát triển lớn hơn nếu không bị cản trở bởi các rào cản về cơ chế. Vì vậy, cần nghiên cứu chính những mô hình này để xác định các điều kiện tạo nên thành công, làm cơ sở hoàn thiện chính sách, thay vì chỉ đưa ra những nhận định mang tính khái quát. "Luôn luôn phải có bằng chứng mới thuyết phục được", ông nhấn mạnh.
Một rào cản cụ thể có thể nêu ra. Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo cho phép trích một tỷ lệ đáng kể lợi nhuận thu được từ kết quả nghiên cứu để thưởng cho tác giả - nhưng cơ chế này gắn với các kết quả thương mại hóa được. Với những nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ quốc phòng, an ninh, vốn không sinh lợi nhuận thương mại theo nghĩa thông thường nhưng đòi hỏi trình độ và công sức không kém, cách ghi nhận đóng góp vẫn còn để ngỏ.
Theo mục tiêu của Nghị quyết số 79, đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Theo số liệu được dẫn tại một diễn đàn đầu năm 2026, ngưỡng doanh thu để lọt vào nhóm này hiện khoảng 32 tỷ USD. Việt Nam nào chạm tới, và để tiến gần trong bốn năm sẽ đòi hỏi tăng trưởng hai chữ số liên tục - thứ không đến từ việc nới thêm vài thủ tục.
Lộ trình đề xuất cơ chế trong năm 2027 được xem là phù hợp về mặt kỹ thuật, bởi cần có thời gian tổng kết thực tiễn thi hành luật mới. Tuy nhiên, ngay trong quá trình nghiên cứu, một số vấn đề cần được làm rõ, như tỷ lệ trích thưởng ở mức nào để đủ tạo động lực và cơ chế này có nên gắn với ngưỡng chi phí vốn theo thông lệ quốc tế, thay vì chỉ căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận được giao.