Tạo vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ quy mô lớn

Cùng với gỗ, các loại lâm sản khác hiện đang góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu hằng năm của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch, khai thác sử dụng chưa đi đôi với trồng mới, nguồn lực tài chính để đầu tư hạn chế, đến nay chưa hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn. Ðây là bài toán cần sớm tìm ra lời giải thỏa đáng để phục vụ ổn định cho ngành chế biến lâm sản đang có nhu cầu lớn hiện nay…
Sản xuất sản phẩm mây tre đan tại làng nghề Phú Vinh, huyện Chương Mỹ (Hà Nội). (Ảnh LINH CHI)
Sản xuất sản phẩm mây tre đan tại làng nghề Phú Vinh, huyện Chương Mỹ (Hà Nội). (Ảnh LINH CHI)

Nguồn nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ tự nhiên đang bị khai thác quá mức, thiếu tổ chức dẫn đến cạn kiệt. Các vùng nguyên liệu nuôi trồng tập trung thiếu quy hoạch tổng thể và bị thu hẹp do phải cạnh tranh với các loại cây trồng khác dẫn đến thiếu nguyên liệu tại chỗ, sản xuất phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu do đó phát sinh chi phí làm tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh. Vì vậy nhiều cơ sở sản xuất, làng nghề không mở rộng được quy mô, hoạt động cầm chừng; lao động thiếu việc làm, thu nhập không ổn định...

Nhu cầu cao, nguyên liệu thiếu

Theo đánh giá của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủ công ngành nghề nông thôn ở thị trường trong nước được dự báo gia tăng trong những năm tới, nhất là các nhóm ngành hàng thủ công mỹ nghệ có chức năng trang trí để đáp ứng cho nhu cầu xây dựng ngày càng gia tăng như mộc gia dụng, sơn mài, gốm sứ, mây tre, cói… và các mặt hàng chế biến nông lâm sản sạch, hữu cơ và sinh vật cảnh.

Tiềm năng thị trường thế giới về hàng thủ công còn rất lớn. Hiện tại, xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ vào các nước. Ðể phát triển, ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam và các làng nghề cần tăng cường năng lực sản xuất theo hướng đi riêng là mang tính khác biệt với dấu ấn, bản sắc văn hóa Việt Nam hòa hợp với xu thế tiêu dùng của các quốc gia nhập khẩu và đặc biệt đòi hỏi vùng nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu phải có chứng chỉ rừng bền vững, bảo đảm các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế.

Hiện nay, nguyên liệu mây, tre luồng trong nước mới đáp ứng được hơn 50% nhu cầu sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, còn lại vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nguyên liệu sợi bông của Việt Nam phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu tới 98%, chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Ðộ, châu Phi. Một số tỉnh khu vực miền núi có trồng bông để phục vụ nghề dệt của đồng bào dân tộc thiểu số nhưng hiện tại diện tích cũng không nhiều.

Ðối với vùng nguyên liệu tre, luồng, mây, nứa, hiện nay đang có diện tích 784.694 ha (rừng tự nhiên là 673.139 ha; rừng trồng 111.555 ha) tập trung ở 35 tỉnh với hơn 200 loài tre, nứa, khoảng 30 loài song mây. Riêng vùng nguyên liệu tre, luồng, tổng diện tích hiện có là 556.605 ha (rừng tự nhiên là 451.812 ha; rừng trồng 104.793 ha), tập trung tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Lâm Ðồng, Kon Tum, Ðắk Nông, Bình Phước... Tre luồng được xem là loại cây xóa đói, giảm nghèo, có thể mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương, nhất là cho người nghèo. Ðây là nguồn thu nhập chính cho nhiều nông dân vùng cao ở một số huyện nghèo nhất của hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và các doanh nghiệp chế biến tre luồng hiện đang sử dụng luồng làm nguyên liệu chính để sản xuất thành phẩm.

Tuy nhiên, giá trị của cây luồng hiện nay vẫn còn rất thấp, đời sống người dân còn gặp rất nhiều khó khăn khi giá bán luồng trung bình hiện nay mới chỉ đạt 800-1.000 đồng/kg luồng tươi. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu phục vụ cho dệt, thêu như tơ tằm, sợi bông, sợi lanh và gần đây là sợi gai (từ cây gai xanh), tơ sen cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất. Hiện cả nước có khoảng 15.000 ha diện tích đất trồng dâu, riêng tỉnh Lâm Ðồng chiếm 73% sản lượng tơ của cả nước với 8.500 ha dâu.

Hiện tại, Việt Nam chưa tự sản xuất được nguồn trứng tằm mà phải nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc. Nguyên liệu sợi bông của Việt Nam cũng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu (98%), chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Ðộ, châu Phi,… Một số tỉnh miền núi phía bắc có trồng cây lanh, tuy nhiên diện tích nhỏ, không ổn định và đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây...

Liên kết để cùng phát triển

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tân Vĩnh Cửu (Ðồng Nai) Võ Quang Hà cho rằng, hiện nay, nhu cầu sử dụng nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong nước rất lớn nhưng có tới hơn 30% phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó có những loại nguyên liệu phải nhập khẩu 100% đã đẩy giá thành lên cao, khó cạnh tranh với các mặt hàng cùng loại của các nước khác, lợi nhuận doanh nghiệp thấp.

Do vậy, không gì tốt hơn là phát triển bền vững các vùng nguyên liệu lâm sản trong nước. Muốn thế phải đầu tư. Cùng với Nhà nước, các doanh nghiệp nên đồng hành với các địa phương, người dân có rừng, có đất để tạo ra các vùng nguyên liệu theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Ðây chính là cách phát triển bền vững nhất, có lợi nhuận tốt nhất cho cả nông dân và doanh nghiệp.

Liên kết sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp hiện nay đang từng bước được thực hiện. Tuy vậy, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay, cả nước mới có tám dự án liên kết sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp và bảy kế hoạch liên kết theo Nghị định số 98/NÐ-CP của Chính phủ được các địa phương phê duyệt (trong tổng số 579 dự án liên kết và 354 kế hoạch liên kết trong toàn lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được phê duyệt).

Tỷ lệ giá trị sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ được sản xuất dưới các hình thức liên kết mới chỉ đạt 3,74%. Số hợp tác xã lâm nghiệp hiện cũng chỉ chiếm 1,02% (181 hợp tác xã), tổ hợp tác chiếm 1,03% (320 tổ hợp tác) và 129 trang trại chiếm 0,65% trang trại trên địa bàn cả nước. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Ðề án “Phát triển vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ đến năm 2030” trình Chính phủ ban hành, trong đó tổ chức phát triển vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Theo đó, tập trung vào phát triển một số trung tâm nguyên liệu tập trung lớn cho sản xuất các sản phẩm chủ lực của mây, tre luồng, bông, lanh.

Nghiên cứu cải tiến giống, phục tráng các giống cho năng suất đang có nguy cơ mai một và chăm sóc các loại cây nguyên liệu có chất lượng tốt, phù hợp các mặt hàng thủ công truyền thống. Tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhất là doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu tại các làng nghề tham gia phát triển vùng nguyên liệu.

Kế hoạch đặt ra mục tiêu cụ thể cho ngành lâm nghiệp là tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân hằng năm từ 5,0% đến 5,5%; trị giá xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt 18-20 tỷ USD và tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 5 tỷ USD vào năm 2025. Bên cạnh đó, sản xuất lâm sản khai thác từ rừng trồng tập trung đạt 35 triệu mét khối/năm vào năm 2025; đáp ứng cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho chế biến gỗ và lâm sản.

Nguyễn Quốc Trị, Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trong lĩnh vực phát triển thị trường, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm chế biến cho phù hợp nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Ðể làm tốt các mục tiêu đề ra, ngành lâm nghiệp tập trung hỗ trợ phát triển các nguồn nguyên liệu có chứng chỉ bền vững, phù hợp quy chuẩn quốc tế và nguồn nguyên liệu thích ứng, giảm đến mức thấp nhất tác động của biến đổi khí hậu; hỗ trợ chế biến nguyên liệu thân thiện với môi trường và phát triển công nghệ chế biến nguyên liệu.

Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất, làng nghề tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp làm nguyên liệu sản xuất để tiết kiệm nguyên liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phát triển mô hình sản xuất tuần hoàn, thân thiện môi trường. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các địa phương xây dựng các mô hình kinh tế trang trại lâm nghiệp, trang trại nông, lâm kết hợp gắn với phát triển sản phẩm OCOP và du lịch.

Mô hình hợp tác, liên kết chủ rừng, trồng rừng trên cơ sở hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác lâm nghiệp liên kết với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, minh bạch nguồn gốc. Tập trung xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng rừng để phát triển bền vững các vùng nguyên liệu lâm sản tại chỗ phục vụ sản xuất, chế biến hiệu quả phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu….

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu thảo luận tại Diễn đàn.

Đà Nẵng hướng tới điểm kết nối cửa ngõ logistics Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Đà Nẵng có nền tảng để phát triển thành trung tâm logistics tích hợp đa phương thức và cửa ngõ thương mại quốc tế. Thành phố hướng tới chuyển mình từ một đầu mối logistics của miền trung thành một điểm kết nối trong mạng lưới chuỗi cung ứng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, liên kết hiệu quả các thị trường khác.

Tuyến đường bộ cao tốc Ninh Bình-Hải Phòng là một trục giao thông chiến lược, kết nối các tỉnh ven biển phía bắc với trục cao tốc bắc-nam. (Ảnh: NGỌC BIỂN)

Tìm hướng khơi thông vốn tín dụng cho các dự án PPP giao thông

Thời gian qua, nhu cầu đầu tư hạ tầng giao thông có xu hướng tăng nhanh, song khi quy mô dự án ngày càng lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài và rủi ro doanh thu được nhìn nhận thận trọng hơn, nguồn vốn tín dụng đang trở thành một trong những “cửa ải” quyết định tính khả thi của dự án hạ tầng theo phương thức đối tác công-tư (PPP).

Ảnh: dms.gov.vn

Giá xăng đồng loạt giảm trong kỳ điều hành ngày 13/8

Từ 15 giờ chiều 13/8, giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo kỳ điều hành của liên Bộ Công thương-Tài chính. Trong đó, xăng E5RON92 giảm gần 500 đồng/lít, xăng E10RON95-III giảm hơn 200 đồng/lít; dầu diesel cũng tiếp tục giảm so kỳ điều hành trước.

Tòa nhà Hội sở Sacombank. (Ảnh: Như Quỳnh)

Sacombank chủ động giảm 2% lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp

Ngay sau buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng, Sacombank là một trong những ngân hàng đầu tiên chủ động thu hẹp biên lợi nhuận xuống còn 0,79% để hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời có các phương án hướng dòng tiền vào các lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp FDI.

Công nhân EVVNPC kiểm tra hệ thống điện. (Ảnh: EVNNPC)

EVNNPC tăng tốc hoàn thành kế hoạch năm 2026

Trong 7 tháng năm 2026, Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) tiếp tục bảo đảm cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân tại 17 tỉnh, thành phố phía bắc, đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số.

Rừng pơ mu ở xã Hùng Sơn trở thành điểm đến ưa thích của du khách trong và ngoài nước.

Phát triển kinh tế dưới những tán rừng

Thời gian qua, nhiều địa phương miền núi của Đà Nẵng đã phát triển mạnh kinh tế dưới tán rừng như trồng cây dược liệu, du lịch sinh thái… đem lại thu nhập bền vững cho người dân, góp phần giữ rừng, bảo vệ sinh thái và phát triển kinh tế-xã hội.

Ngâm tre là công đoạn đầu tiên trong quy trình xử lý nguyên liệu của làng nghề Xuân Lai, giúp tăng độ bền và tạo điều kiện để tre đạt màu sắc đặc trưng sau khi hun khói.

“Giữ lửa” làng nghề trước áp lực thị trường

Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu lao động mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một do khó khăn về đầu ra cho sản phẩm, thiếu vốn, nguyên liệu, lao động lành nghề...

Các kỹ sư, công nhân làm việc tại mỏ Đại Hùng.

Hồi sinh mỏ Đại Hùng

Từ mỏ dầu bị đánh giá không còn hiệu quả kinh tế, được chuyển nhượng với giá 1 USD, nhưng quá trình nghiên cứu, áp dụng các giải pháp khoa học-kỹ thuật đã giúp mỏ Đại Hùng “hồi sinh” với doanh thu hàng tỷ USD.