Yên Bình là một trong những xã khó khăn nhất của Thái Nguyên với 20 thôn, bản, số dân hơn 7.000 người gồm các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh... Đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp; số hộ nghèo và cận nghèo lên tới gần 40%. Thời gian qua, cây hồi đã bén rễ, dần trở thành sinh kế ổn định, bền vững cho người dân Yên Bình.
Nguồn lực hỗ trợ từ Hội Nông dân xã đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển loại cây đặc sản này trên vùng đất đồi. Trung bình 1 ha hồi cho thu hoạch khoảng từ 2,5 đến 3,5 tấn quả hồi tươi, giá bán từ 35.000 đến 50.000 đồng/kg, mang lại thu nhập khá cao. Ông Hạ Đức Dương, thôn Nà Hin cho biết, nhờ được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân, gia đình ông đã có điều kiện mở rộng diện tích trồng hồi, mang lại thu nhập ổn định. Theo Ủy ban nhân dân xã Yên Bình, dựa vào lợi thế địa hình, khí hậu, xã tập trung phát triển các loại cây trồng chủ lực, đặc sản, như hồi, quế, chè, thuốc lá.
Hiện tại, toàn xã đã có hơn 1.000 ha cây quế, 897 ha cây hồi, 120 ha cây chè Shan tuyết. Hằng năm, những loại cây đặc sản này mang lại cho người dân hàng trăm tỷ đồng, giải quyết việc làm cho nhiều lao động. Cũng từ những loại cây đặc sản, Yên Bình đã có ba sản phẩm OCOP gồm: Chè Shan tuyết, hoa hồi sấy khô và tinh dầu quế Quỳnh Dương. Theo Bí thư Đảng ủy xã Lê Ngọc Quyến, mục tiêu đến năm 2030, Yên Bình phấn đấu thu nhập bình quân đạt 60 triệu đồng/người/năm. Để đạt mục tiêu này, Yên Bình xác định phát triển các cây trồng chủ lực, đặc sản hiện có tại địa phương.
Mỗi năm trồng mới thêm 100 ha cây hồi, 200 ha cây quế và 100 ha cây chè. Trong khi đó, xã Quảng Bạch lại lựa chọn phát triển mạnh cây hồng không hạt, giống cây ăn quả đặc sản đã được cấp chỉ dẫn địa lý. Đây là loài cây bản địa, gắn bó lâu đời với nhân dân, sản phẩm được thị trường ưa chuộng. Cây hồng không hạt dễ trồng, sau từ 3 đến 5 năm đã cho thu hoạch. Bí thư Đảng ủy xã Triệu Đức Phú cho biết, Đảng ủy xã tập trung chỉ đạo, định hướng cho nhân dân nhân rộng mô hình trồng hồng không hạt.
Giải pháp chính là thường xuyên tuyên truyền, vận động đảng viên, hội viên, đoàn viên và nhân dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tận dụng mọi diện tích đất, nhất là đất trồng lúa kém hiệu quả để chuyển sang trồng cây hồng không hạt. Nhờ đó đến nay, mô hình trồng hồng không hạt ở Quảng Bạch đã được đông đảo người dân hưởng ứng với hơn 80% số hộ tham gia, góp phần nâng cao thu nhập. Dự kiến thời gian tới diện tích loại cây đặc sản này sẽ mở rộng lên 20 ha, năng suất ước đạt 12 tấn/ha, sản lượng hằng năm 160 tấn, mang lại thu nhập bình quân khoảng 3,2 tỷ đồng/năm.
Việc lựa chọn phát triển các loại cây đặc sản được nhiều xã khó khăn của tỉnh Thái Nguyên sớm xác định là yếu tố then chốt thúc đẩy kinh tế nông hộ bền vững. Theo Bí thư Đảng ủy xã Tân Kỳ Phan Thị Na, Đảng bộ xã đã xác định khâu đột phá của nhiệm kỳ 2025-2030 là: “Đẩy mạnh phát triển các loại cây trồng chủ lực của địa phương, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị gắn với du lịch địa phương…”.
Đồng thời, Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã ra nghị quyết chuyên đề về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong đó, lựa chọn các loại cây đặc sản gồm mơ, gừng, khoai môn và ớt là cây trồng chủ lực. Nghị quyết đi vào cuộc sống đã giúp Tân Kỳ hiện có hơn 423 ha cây mơ, cho thu nhập hằng năm gần 30 tỷ đồng; 25 ha cây gừng cho thu nhập khoảng hơn 6 tỷ đồng/năm; 22 ha khoai môn cho thu nhập hằng năm gần 6 tỷ đồng; gần 10 ha ớt cho thu nhập khoảng 3 tỷ đồng/năm.
Tân Kỳ đang tập trung lồng ghép nguồn lực hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất tập trung song song với tổ chức sản xuất theo hướng liên kết để hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã. Thời gian qua, địa phương đã và đang có những bước đi đồng bộ, bài bản trong việc nâng tầm thương hiệu nông sản qua chỉ dẫn địa lý. Ngay sau khi vận hành tỉnh mới, Thái Nguyên đã tiến hành khảo sát thực tế tiềm năng chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch ở xã Thượng Quan; lúa nếp Tài xã Thượng Minh; chè Shan tuyết xã Đồng Phúc; mơ vàng phường Bắc Kạn; chè Vô Tranh; chè La Bằng.
Theo đại diện Sở Khoa học và Công nghệ, các sản phẩm đều có chất lượng, một số đã xây dựng được nhãn hiệu tập thể, khẳng định được chất lượng trên thị trường trong và ngoài nước. Cùng với đó, sở đã đề nghị các địa phương tiếp tục xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm để đáp ứng đủ điều kiện đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Sau một thời gian dài nghiên cứu, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía bắc (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã đề xuất hồ sơ trình công nhận lưu hành đặc cách chín giống cây trồng đặc sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển các nguồn gien đặc sản quý, góp phần duy trì và làm phong phú thêm tính đa dạng sinh học của các loài cây trồng bản địa trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Việc mở rộng không gian phát triển không chỉ đơn thuần là cộng gộp tài nguyên, mà quan trọng hơn bổ trợ lẫn nhau. Chè, cây ăn quả, lúa chất lượng cao, cây dược liệu, nấm, dong riềng, các sản phẩm OCOP đặc trưng của từng vùng, nếu được tổ chức sản xuất và tiêu thụ bài bản, sẽ mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh, hạn chế trùng lặp, dư thừa.
Từ chỗ mỗi tỉnh phát triển “một mình một kiểu”, nay có thể quy hoạch vùng nguyên liệu theo lợi thế từng địa bàn, liên kết vùng chuyên canh-chế biếntiêu thụ. Để khơi dậy tiềm năng, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã ban hành Đề án phát triển toàn diện khu vực nông thôn giai đoạn 2026-2030 với các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là phát triển các cây trồng đặc sản, thế mạnh từng vùng miền.
Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản phẩm/ héc-ta đất trồng trọt đạt 126 triệu đồng; sản lượng chè búp tươi hơn 277.000 tấn; sản lượng lương thực có hạt hơn 590.000 tấn; giá trị sản phẩm từ cây chè hơn 16.000 tỷ đồng; thêm 20 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Cùng với đó, tỉnh cũng chỉ đạo gắn phát triển nông nghiệp với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và quyết tâm đưa cây trồng đặc sản nói riêng và nông nghiệp nói chung trở thành động lực phát triển toàn diện, bền vững ở nông thôn trong thời gian tới.