Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong
Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Văn hóa là động lực mạnh mẽ

Trong xu hướng du lịch có trách nhiệm, du khách ngày càng quan tâm đến trải nghiệm gắn với môi trường và đời sống bản địa. Sức hấp dẫn của một điểm đến đôi khi bắt đầu từ những điều bình dị: Nếp nhà cổ được gìn giữ qua nhiều thế hệ, một nghề thủ công còn hiện diện thường ngày, hay cách người dân đón khách bằng món ăn và câu chuyện của quê hương. Khi những giá trị ấy được bảo tồn và trở thành một phần của trải nghiệm du lịch, di sản có thêm cơ hội được bảo tồn, còn cộng đồng có thêm cơ hội cải thiện sinh kế.

Số liệu thống kê trong những năm gần đây về tăng trưởng du lịch Việt Nam cho thấy khả năng phục hồi và sức hút của ngành kinh tế quan trọng này, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về chất lượng tăng trưởng, nhất là khi tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đang trở thành những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của điểm đến.

Ở nhiều địa phương miền núi, du lịch đang mở ra hướng phát triển kinh tế dựa trên những giá trị vốn có của bản làng. Tại tỉnh Lai Châu, bản du lịch cộng đồng Sin Suối Hồ là một trong những điểm đến nổi bật hàng đầu nhờ tiên phong phát triển du lịch cộng đồng (từ năm 2015) và duy trì sức hút được tạo nên từ cảnh quan vùng cao, những vườn địa lan, ẩm thực và đời sống văn hóa của đồng bào H’Mông. Năm 2025, Sin Suối Hồ được trao Giải thưởng Du lịch Việt Nam cho hạng mục “Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất”. Theo Trưởng bản Vàng A Chỉnh, bản đón khoảng 20.000 lượt khách mỗi năm, doanh thu đạt hàng tỷ đồng. Nguồn thu từ du lịch giúp người dân có thêm sinh kế, chăm lo việc học hành của con em, đồng thời góp phần giữ gìn đường bản sạch đẹp và môi trường sống.

Một mô hình đáng chú ý khác là Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Với 30 ngôi nhà sàn Tày, Nùng nguyên bản được chuyển về từ vùng Định Hóa, nơi đây kết nối kiến trúc, phong tục, ẩm thực, sinh hoạt cộng đồng và cảnh quan xanh thành sản phẩm du lịch. Năm 2022, Thái Hải được Tổ chức Du lịch thế giới, nay là Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), công nhận là “Làng du lịch tốt nhất thế giới”. Năm 2025, sản phẩm du lịch văn hóa dân tộc Tày của Khu bảo tồn được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Từ miền núi đến miền biển, mỗi vùng đất đều có thể tìm thấy hướng đi riêng từ bản sắc. Chẳng hạn tại làng Lò - làng chài cổ 400 năm tuổi ở tỉnh Đắk Lắk sở hữu vẻ đẹp hiếm có với kiến trúc đặc trưng mái ngói đỏ nổi bật bên bờ biển xanh cát trắng. Thay vì chỉ khai thác cảnh quan hay ẩm thực, các sản phẩm trải nghiệm nơi đây hướng du khách đến gần hơn với nghề biển truyền thống, như đan lưới hay làm mắm, với tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ hội Cầu ngư và các sinh hoạt văn nghệ dân gian. Làng Lò đã được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam lựa chọn là một đại diện tham gia tranh giải “Làng Du lịch tốt nhất thế giới” năm 2026 của UN Tourism.

Những mô hình trên là minh chứng: Tài nguyên để phát triển du lịch không nhất thiết phải đến từ các công trình mới hay những khoản đầu tư lớn. Cảnh quan được bảo vệ, văn hóa được duy trì thực hành và cộng đồng biết tổ chức các giá trị sẵn có thành trải nghiệm phù hợp đều có thể tạo nên những điểm đến hút khách.

Nhận diện sức ép từ tăng trưởng

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cũng cho thấy: Khi lợi ích kinh tế trước mắt trở thành ưu tiên, cảnh quan và đời sống văn hóa có thể phải chịu những tác động tiêu cực.

Ở một số điểm du lịch cộng đồng, đã có tình trạng phát triển “nóng” khiến kiến trúc truyền thống bị thay thế, bê-tông hóa xâm chiếm không gian vốn hài hòa với thiên nhiên; công trình xây mới, biển hiệu và các điểm chụp ảnh thi nhau mọc lên theo nhu cầu kinh doanh. Đáng lo ngại hơn là tình trạng lấy danh nghĩa sáng tạo để vay mượn những biểu tượng văn hóa không phù hợp, như cho thuê trang phục nước ngoài hay dựng tiểu cảnh mô phỏng địa điểm nổi tiếng của thế giới, chỉ để gây tò mò, làm phông nền check-in. Điểm đến có thể đông vui hơn trong ngắn hạn, nhưng thật khó giữ chân và thu hút khách về lâu dài vì tự làm suy giảm dần thế mạnh giá trị bản sắc.

Theo ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Phát triển du lịch châu Á: Hoạt động bảo tồn văn hóa ở một số nơi còn nặng tính hình thức, chú trọng sân khấu hóa và biểu diễn phục vụ khách, trong khi việc duy trì, trao truyền sinh hoạt văn hóa gốc cho thế hệ trẻ chưa được quan tâm tương xứng. Nếu phong tục chỉ được tái hiện theo lịch biểu diễn, trang phục chỉ được sử dụng để chụp ảnh, còn nghề thủ công chỉ xuất hiện trong không gian đón khách, việc khai thác du lịch chưa chắc đã giúp văn hóa tiếp tục sống trong cộng đồng.

Một hạn chế khác là sự phân mảnh trong phát triển du lịch. Nhiều địa phương có tài nguyên văn hóa phong phú nhưng chưa kết nối hiệu quả với doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống và các hộ sản xuất đặc sản. Những trải nghiệm tương tự được khai thác ở nhiều nơi, tạo thành những tour du lịch giống hệt nhau, thiếu dấu ấn riêng, bỏ qua việc tổ chức hành trình liên kết câu chuyện đặc sắc của địa phương về lịch sử, nghề truyền thống, ẩm thực và cảnh quan. Khi thiếu kết nối, thời gian lưu trú khó kéo dài, giá trị kinh tế tạo ra bị chia nhỏ và lợi ích của người dân chưa tương xứng với tiềm năng bao trùm của địa phương.

Đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm

Phát triển du lịch cộng đồng không chỉ là xây dựng thêm homestay hay tổ chức thêm hoạt động biểu diễn. Ở cấp quản lý, quy hoạch du lịch cần gắn với sức chịu tải của hệ sinh thái và nhu cầu thực tế của cư dân. Không phải điểm đến nào cũng cần tăng nhanh lượng khách, mà phải phân bổ khách hợp lý, kéo dài thời gian lưu trú, chia sẻ thị trường và giảm áp lực lên những điểm đến nổi tiếng.

Thêm vào đó, bảo tồn văn hóa cũng cần được nhìn nhận như một quá trình sống, bắt đầu từ gia đình, trường học và cộng đồng. Nghề thủ công, tiếng nói, trang phục, ẩm thực, lễ hội và tri thức bản địa chỉ được duy trì khi còn người thực hành, trao truyền. Du lịch có thể tạo thêm nguồn lực cho quá trình ấy, nhưng không thể thay thế vai trò của cộng đồng trong việc lựa chọn giá trị cần gìn giữ. Mặt khác, du khách cũng cần được khuyến khích ứng xử có trách nhiệm, tôn trọng phong tục, môi trường và không gian riêng tư của cư dân.

Bàn về vấn đề này, PGS, TS Mai Quang Vinh, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, Viện trưởng Công nghệ Xanh, cho rằng: Cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả phát triển du lịch cộng đồng. Bên cạnh lượng khách và doanh thu, địa phương cần theo dõi tỷ lệ lợi ích kinh tế được giữ lại trong cộng đồng, tỷ lệ lao động địa phương và mức độ hài lòng của cư dân.

Ông Yasushi Ogura, người Nhật Bản dành nhiều tâm huyết hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại Tuyên Quang, nhấn mạnh vai trò quan trọng của quyền làm chủ của cư dân trong thúc đẩy du lịch cộng đồng. Khi hỗ trợ một gia đình phát triển quán cà-phê Cực Bắc trong ngôi nhà truyền thống ở bản Lô Lô Chải, ông để người dân tự vận hành và làm chủ nguồn thu. Theo ông, nếu cư dân chỉ trở thành người làm thuê trên chính vùng đất của mình, du lịch chưa thể được xem là phát triển cộng đồng đúng nghĩa. Một điểm đến có thể đông khách, doanh thu lớn nhưng vẫn thiếu bền vững nếu phần lớn giá trị kinh tế chảy ra ngoài.

Ông Dương Minh Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Phát triển Du lịch Cộng đồng Việt Nam (CBT Travel), đúc kết cách tiếp cận này: “Không biến một ngôi làng thành một điểm du lịch, mà giúp một ngôi làng nhận ra chính mình có thể trở thành một điểm đến”. Thay vì áp đặt một mô hình kinh doanh có sẵn, quá trình phát triển cần được bắt đầu từ cảnh quan, văn hóa, nghề truyền thống và nhu cầu thực tế của cư dân.

Du lịch Việt Nam đã có những thành công bước đầu cho thấy bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế hỗ trợ nhau một cách tích cực. Thách thức tiếp theo là mở rộng những cách làm hiệu quả và đặt giới hạn rõ ràng cho việc khai thác tài nguyên. Đó là trách nhiệm chung của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người dân và du khách, đòi hỏi sự liên kết từ địa phương đến quốc gia.

Có thể bạn quan tâm

Bảo vệ và phát huy tốt giá trị văn hóa cố đô, Huế là địa phương bước đầu thành công trong phát triển du lịch bền vững. Ảnh: Minh Lê

Định hình diện mạo mới của du lịch Việt Nam

Dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có sức mạnh cạnh tranh quốc tế gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một nội dung quan trọng trong Chương trình hành động của Chính phủ nhằm triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Đội tuyển karate Việt Nam giành Huy chương vàng nội dung kata đồng đội nữ, ở hai kỳ ASIAD liên tiếp - mẫu hình thành công về đầu tư có trọng điểm. Ảnh: Bùi Lượng

Thay đổi tư duy hay tụt hậu?

Đoàn thể thao Việt Nam vừa khép lại kỳ ASIAD 20 với ba Huy chương vàng, ba Huy chương bạc và 19 Huy chương đồng. Chúng ta đứng thứ 5 Đông Nam Á và xếp hạng 20 châu lục.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.