Sau 30 năm, mức sinh của Việt Nam giảm gần một nửa

Theo Tổng cục Thống kê, sau ba thập kỷ, mức sinh của Việt Nam đã giảm gần một nửa, chỉ còn còn 2,09 con/phụ nữ vào năm 2019. 

TS Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, tại hội nghị (Ảnh: UNFPA).
TS Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, tại hội nghị (Ảnh: UNFPA).

Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình thành công với mục tiêu giảm sinh

Trong vòng 30 năm qua, mức sinh của Việt Nam đã giảm gần một nửa. Tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm từ 3,8 con/phụ nữ vào năm 1989 xuống còn 2,09 con/phụ nữ vào năm 2019. Việt Nam vẫn duy trì mức sinh ổn định ở mức thay thế trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng sinh hai con vẫn là phổ biến. Kết quả này tiếp tục khẳng định, Việt Nam đã thực hiện thành công chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình đối với mục tiêu giảm sinh.

Đây là thông tin được chia sẻ từ hội nghị công bố kết quả các nghiên cứu chuyên sâu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê phối hợp Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam tổ chức ngày 18-12 tại Hà Nội.

Hiện nay, mức sinh của khu vực nông thôn cao hơn của khu vực thành thị và cao hơn mức sinh thay thế, TFR tương ứng là 2,26 con/phụ nữ và 1,83 con/phụ nữ. Khu vực trung du và miền núi phía bắc và Tây Nguyên là các vùng có mức sinh cao nhất cả nước, với TFR mỗi vùng là 2,43 con/phụ nữ. Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có mức sinh thấp nhất cả nước, TFR tương ứng là 1,56 con/phụ nữ và 1,8 con/phụ nữ.

Năm 2019, trong số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh Hà Tĩnh có mức sinh cao nhất (2,83 con/phụ nữ), cao hơn gấp hai lần so với địa phương có mức sinh thấp nhất là Thành phố Hồ Chí Minh (1,39 con/phụ nữ). Trong vòng 10 năm qua, toàn quốc có 29 tỉnh ghi nhận mức sinh giảm và 33 tỉnh ghi nhận mức sinh tăng, Sóc Trăng là địa phương duy nhất có mức sinh không thay đổi.

Trong số các dân tộc có quy mô dân số trên 1 triệu người (Kinh, Tày, Thái, Khmer, Mường, Mông, Nùng), dân tộc Mông có mức sinh cao nhất. Trải qua ba thập kỷ, mức sinh của các dân tộc này đều giảm, trong đó dân tộc Mông có mức sinh giảm nhiều nhất (năm 1989: 9,3 con/phụ nữ; năm 2009: 4,96 con/phụ nữ; năm 2019: 3,59 con/phụ nữ). Hiện nay, chênh lệch về mức sinh giữa các nhóm dân tộc đang có xu hướng thu hẹp dần.

Năm 2019, phụ nữ di cư có mức sinh thấp hơn phụ nữ không di cư với TFR tương ứng là 1,54 con/phụ nữ so với 2,13 con/phụ nữ; phụ nữ có trình độ học vấn càng cao thì mức sinh càng thấp, TFR của nhóm phụ nữ có trình độ trên trung học phổ thông là thấp nhất (1,98 con/phụ nữ) và của nhóm có trình độ dưới tiểu học là cao nhất (2,35 con/phụ nữ); phụ nữ sống trong các hộ nghèo nhất có mức sinh cao nhất trong 5 nhóm mức sống (2,4 con/phụ nữ), phụ nữ sống trong các hộ giàu nhất có mức sinh thấp nhất (2 con/phụ nữ).

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của phụ nữ từ 10-19 tuổi (ASFR10) là 11 con/1000 phụ nữ. Trong đó, khu vực nông thôn cao hơn thành thị, tương ứng là 15 con/1000 phụ nữ và 5 con/1000 phụ nữ. Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có ASFR10 là cao nhất, tương ứng là 28 con/1000 phụ nữ và 21 con/1000 phụ nữ. Trong số các dân tộc có quy mô dân số hơn 1 triệu người, ASFR10 của dân tộc Mông cao nhất, 65 con/1000 phụ nữ, cao hơn khoảng chín lần so với dân tộc Kinh và hơn sáu lần so với mức bình quân chung của cả nước.

Mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức rất cao

Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) năm 2019 là 111,5 bé trai/100 bé gái, cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức rất cao. TSGTKS bắt đầu tăng tại Việt Nam vào khoảng năm 2004, đã đạt mức 112 bé trai/100 bé gái sau năm 2010 và chững lại từ đó đến nay.

TSGTKS ở Việt Nam cao hơn mức sinh học tự nhiên (104-106 trai/100 bé gái) cho thấy có khoảng 45.900 trẻ em gái bị thiếu hụt năm 2019. Số lượng trẻ em gái thiếu hụt chiếm 6,2% số lượng trẻ em gái sinh ra.

TSGTKS cao nhất ở đồng bằng sông Hồng. Trong đó, TSGTKS tại khu vực nông thôn của đồng bằng sông Hồng cao hơn ở khu vực thành thị của khu vực này, tương ứng là 115,2 bé trai/100 bé gái và 112,8 bé trai/100 bé gái .

Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra ở tất cả các nhóm mức sống. Trong 10 năm qua, TSGTKS của nhóm nghèo nhất tăng từ 105,2 lên 108,2 bé trai/100 bé gái; trong khi đó, TSGTKS của nhóm giàu nhất vẫn ở giữ mức cao (năm 2019: 112,9 bé trai/100 bé gái).

Tâm lý ưa thích con trai và nhu cầu cần có con trai tác động tới việc sinh thêm con của các cặp vợ chồng. Những cặp vợ chồng đã có hai con nhưng chưa có con trai, khả năng sinh thêm con cao gấp đôi so với những cặp vợ chồng đã có ít nhất một con trai.  Việc sinh thêm con để có con trai đặc biệt rõ rệt ở nhóm dân số có trình độ học vấn cao và mức sống tốt hơn.

Sự ưa thích con trai còn được thể hiện qua việc lựa chọn giới tính trước sinh ngay từ lần sinh đầu, với TSGTKS là 109,5 bé trai/100 bé gái đối với lần sinh đầu tiên; TSGTKS tiếp tục tăng ở lần sinh từ thứ ba trở lên (119,8  bé trai/100 bé gái). Đối với các cặp vợ chồng sinh liên tiếp 2 con gái, TSGTKS của lần sinh thứ ba là 143,8 bé trai/100 bé gái.

Mức độ mất cân bằng giới tính khi sinh hiện tại sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số trong tương lai như dư thừa số lượng nam thanh niên. Dự báo cho thấy, nếu TSGTKS vẫn giữ nguyên như hiện nay, số nam giới từ 15-49 tuổi sẽ dư thừa năm 2034 là 1,5 triệu người, năm 2059 là 2,5 triệu người. Nếu TSGTKS giảm nhanh và đạt mức bình thường vào năm 2039, số nam giới từ 15-49 tuổi sẽ dư thừa vào năm 2034 là 1,5 triệu người, năm 2059 là 1,8 triệu người.

Những hệ lụy liên quan tới việc mất cân bằng giới tính là nam giới sau này có thể không có cơ hội lấy vợ là nữ, phụ nữ có thể bị ngược đãi, các tệ nạn xã hội cũng từ đó tăng theo... Cùng với xu thế hiện đại hiện nay, phụ nữ cũng đã xuất hiện tư tưởng không muốn kết hôn. Đây cũng là một vấn đề đáng lo ngại trong thời đại này.

* Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được tiến hành từ ngày 1-4-2019. Đây là Tổng điều tra dân số và nhà ở lần thứ năm ở nước ta, kể từ năm 1975 sau khi thống nhất đất nước. 

Theo đó, Tổng cục Thống kê thực hiện phân tích, nghiên cứu chuyên sâu về một số chủ đề liên quan đến dân số, bao gồm: mức sinh, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính, di cư và đô thị hóa. Đồng thời, qua nghiên cứu này, có thể đưa ra các dự báo về dân số Việt Nam trong vòng 50 năm tiếp theo kể từ 2019. 

Có thể bạn quan tâm

[Video] Cảnh báo giả mạo vé máy bay dịp Quốc khánh 2/9

[Video] Cảnh báo giả mạo vé máy bay dịp Quốc khánh 2/9

Ngày 22/8, Vietnam Airlines cảnh báo hành khách thận trọng với các website, fanpage và tài khoản mạng xã hội giả mạo thương hiệu, đặc biệt những nơi chào bán vé giá rẻ hoặc quảng cáo các suất ưu đãi dành cho nhân viên hãng và người thân.

Chương trình nghệ thuật kỷ niệm 120 năm Phủ lỵ Tam Kỳ. (Ảnh: QV)

Đà Nẵng: Kỷ niệm 120 năm Phủ lỵ Tam Kỳ

Tối 22/8, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm Phủ lỵ Tam Kỳ 1906-2026, với chủ đề “Chung một nguồn cội-Khát vọng tương lai”.

Tin nổi bật ngày 22/8: Bộ Chính trị ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; Bão số 4 gây mưa lớn ở phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa

Tin nổi bật ngày 22/8: Bộ Chính trị ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; Bão số 4 gây mưa lớn ở phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa

Bộ Chính trị ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; Quốc hội thảo luận về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp; Bão số 4 gây mưa lớn ở phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa… là một số tin tức nổi bật ngày 22/8/2026.

Mưa lớn tại Lạng Sơn ghi nhận 290 điểm sạt lở, ngập úng gây ách tắc. (Ảnh: VOV)

Bão số 4 gây mưa lớn, Lạng Sơn thiệt hại nặng do mưa lũ

Chiều 22/8, Cục Đê điều và Phòng, chống thiên tai thông tin nhanh về tình hình bão số 4 và mưa lũ. Bão đang di chuyển chậm trên vùng biển Quảng Ninh-Hải Phòng, trong khi mưa lớn tiếp diễn tại nhiều địa phương, gây ngập úng, sạt lở và thiệt hại về nhà cửa, cây trồng, giao thông.

Tuyến đường tỉnh 925B đấu nối từ Quốc lộ 61C đến kênh Nàng Mau thuộc địa bàn xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ đang san lấp thi công mặt bằng. (Ảnh: VĂN ÚT)

Cần Thơ: Người dân đồng thuận bàn giao đất, mở đường phát triển giao thông

Thời gian qua, nhiều hộ dân ở thành phố Cần Thơ đã đồng thuận tự nguyện hiến đất, đóng góp hàng tỷ đồng và bàn giao mặt bằng để thực hiện các dự án giao thông trọng điểm, điển hình như chiến dịch mở rộng Quốc lộ 91, Tỉnh lộ 925B và các tuyến đường dân sinh nhằm hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy kinh tế-xã hội địa phương phát triển.

Dù mưa lớn từ sáng 22/8 nhưng đường phố Hà Nội không hề bị ngập nước.

Hà Nội chủ động ứng trực, chưa ghi nhận điểm úng ngập do mưa

Ngày 22/8, mưa tiếp tục diễn ra trên diện rộng tại Hà Nội. Các lực lượng thoát nước của thành phố được bố trí ứng trực, vận hành hệ thống tiêu thoát nước; tới 12 giờ cùng ngày, chưa ghi nhận điểm úng ngập trên địa bàn do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thoát nước Hà Nội quản lý.

Các đại biểu dự hội nghị.

Gỡ vướng các dự án điện trọng điểm ở khu vực Hòa Bình cũ

Ngày 22/8, Đoàn công tác Tỉnh ủy Phú Thọ, do Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Tổng Công ty Điện lực miền Bắc, cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và 9 xã, phường nằm trong vùng dự án. Qua đó, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án điện trọng điểm ở khu vực Hòa Bình (cũ).

Các địa phương miền núi của tỉnh Quảng Ninh đang triển khai công trình, dự án cần chủ động phương án bảo đảm an toàn cho công trình và người dân. (Ảnh: Quang Thọ)

Quảng Ninh chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất

Do ảnh hưởng của bão số 4, trong 24 giờ qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có mưa vừa, mưa to đến rất to và rải rác có dông. Lượng mưa đo được tại các trạm Khí tượng Thủy văn từ 7 giờ sáng 21/8 đến 7 giờ sáng 22/8: Quảng Hà 235,0mm, Bến Triều 127,0mm, Móng Cái 119,0mm, Bình Liêu 109,0mm, Đồn Sơn 102,0mm, các nơi khác từ 32-91mm.