Quảng Nam phát triển kinh tế miền núi

Từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay, Quảng Nam đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ở các huyện miền núi. Qua đó, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể: Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu từng bước được đầu tư xây dựng, đời sống đồng bào các dân tộc ngày càng được cải thiện.

Cây cao-su góp phần giúp người dân Quảng Nam xóa đói, giảm nghèo.
Cây cao-su góp phần giúp người dân Quảng Nam xóa đói, giảm nghèo.

Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế ở miền núi chưa thật bền vững, còn nhiều vấn đề bất cập đòi hỏi phải có tầm nhìn xa hơn trong đầu tư, phát triển...

Kết quả bước đầu...

Ấn tượng sâu sắc đối với chúng tôi khi trở lại các huyện miền núi Quảng Nam trong những ngày trung tuần tháng 10 vừa qua, là hệ thống đường giao thông từ quốc lộ 1A ngược lên trung tâm các huyện miền núi cao như: Nam Giang, Phước Sơn, Ðông Giang, Tây Giang, rồi Nam Trà My... đã được đầu tư nâng cấp và thảm nhựa. Dọc hai bên đường,  nhiều điểm tái định cư quy mô từ vài chục đến cả trăm hộ dân đang sinh sống. Bây giờ, dọc tuyến đường đi qua các thị trấn: Prao (Ðông Giang), Thạnh Mỹ (Nam Giang), Phước Sơn, Trà My... nhà cửa mọc lên san sát. Nhiều ngôi nhà xây dựng kiên cố sừng sững giữa đồi núi và những khu hành chính, trường học, bệnh viện... được đầu tư xây dựng khang trang, tạo nên một quang cảnh, sắc màu mới trông thật ấm no, yên bình.

Tuyến đường từ ngã tư Túy Loan (Ðà Nẵng) ngược lên thị trấn Prao, giờ đây xe chạy êm ru. Nhìn tuyến đường tráng nhựa phẳng lỳ và các loại xe lăn bánh ngược - xuôi, khó ai hình dung được 10 năm trước, tuyến đường huyết mạch này đầy "ổ gà", "ổ trâu"; có đoạn lởm chởm "đá toàn đá", mỗi lần qua đây, xe ô-tô cứ lắc lư và nhảy chồm chồm. Nhớ hồi đó, đường lên các huyện miền núi Quảng Nam rất khó đi. Có lần, Ðoàn công tác của tỉnh khởi hành tại Tam Kỳ từ lúc 5 giờ sáng, mãi 11 giờ trưa mới tới được thị trấn Prao, làm việc khoảng một tiếng đồng hồ quay về lại Tam Kỳ trời đã lặn xuống đỉnh núi từ lâu. Ðó là đi trong mùa nắng, còn mùa mưa thì không thể tính được thời gian, vì có khi tắc đường phải nằm lại giữa rừng. Hồi đó, đến mùa mưa chuyện sạt lở núi, tắc đường là "chuyện thường ngày ở huyện". Mà tắc đường là bị cách trở, cô lập, dân thiếu lương thực, thực phẩm. Cán bộ tỉnh không xuống huyện được, còn cán bộ huyện mỗi lần xuống xã chỉ có cách duy nhất xắn quần, lội bộ năm, bảy ngày đường...

Ðường lên miền núi giờ đây thuận lợi hơn nhiều, phần lớn các xã ở miền núi đã có đường cho xe ô-tô đến tận trung tâm xã. Hệ thống "điện, đường, trường, trạm" ngày càng được đầu tư xây dựng kiên cố, phục vụ cho việc sinh hoạt và sản xuất của người dân. Khi đề cập về những kết quả đạt được trong phát triển miền núi, Giám đốc Sở Kế hoạch và Ðầu tư Quảng Nam Trần Văn Tri đúc kết: Tình hình KT-XH trên địa bàn các huyện miền núi Quảng Nam đã có những bước đổi thay đáng ghi nhận. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đã được xây dựng; trong đó, các công trình giao thông, thủy lợi, điện... đã phát huy hiệu quả thiết thực; bước đầu đã tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc tiếp thu được các kiến thức khoa học, thay đổi nền nếp sinh hoạt và biết tổ chức lại sản xuất; khắc phục được tình trạng phá rừng làm rẫy và các tập tục lạc hậu; đồng thời biết đưa các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, hiệu quả cao vào sản xuất.

Có thể thấy rằng, thời gian qua, hầu hết các huyện đã bắt tay vào công tác chuyển đổi cơ cấu, cây trồng, vật nuôi; tạo ra sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế ở địa phương. Ðiều thể hiện rõ nét nhất là, giá trị xuất khẩu của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở các huyện miền núi đều tăng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2011, đạt 6,26 triệu đồng/người/năm, tăng 2,2 lần so với năm 2006; lương thực bình quân đầu người từ 234 kg (năm 2006) tăng lên 268,2 kg (năm 2011); tỷ lệ diện tích lúa nước tưới tiêu chủ động nâng từ 27% lên 64,11%; tỷ lệ thôn có đường giao thông cho xe cơ giới từ 44,6% lên 59,8% (năm 2011). Tỷ lệ học sinh mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường tăng lên rõ rệt. Ðến nay, đã có hơn 90% số hộ sử dụng điện; 83,8% sử dụng nước sạch và gần 20% số xã có chợ... Tính sơ bộ, từ năm 2006 - 2012, ngân sách Nhà nước đầu tư thông qua các chương trình dự án đã đầu tư cho miền núi gần tám nghìn tỷ đồng...

Những vấn đề đặt ra

Trao đổi ý kiến với chúng tôi,  Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Nguyễn Ngọc Quang, thừa nhận: Trong quá trình phát triển KT-XH miền núi Quảng Nam còn bộc lộ nhiều tồn tại và hạn chế. Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy được đầu tư, nhưng chưa đồng bộ; công tác quản lý đầu tư xây dựng thiếu chặt chẽ, việc đầu tư còn dàn trải. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch còn nhiều bất cập. Nhiều dự án, công trình "đầu tư cao, hiệu quả thấp"; thậm chí nhiều công trình nước sạch xây dựng ở các huyện: Ðông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My... không phát huy được tác dụng. Mặt khác, tốc độ phát triển kinh tế ở các huyện miền núi còn chậm; tỷ lệ hộ nghèo còn quá cao, nguy cơ tái nghèo rất lớn. Ðến nay, tỷ lệ nghèo ở các huyện miền núi còn đến 58,3%. Nhiều địa phương tỷ lệ rất cao như: Nam Trà My (84,8%), Nam Giang (72,1%), Tây Giang (69,7%)... Hệ thống kết cấu hạ tầng, tuy được đầu tư xây dựng, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT- XH; vẫn còn một số xã chưa có đường ô-tô và chưa có điện thắp sáng.

Bí thư Huyện ủy Nam Giang Chơ Rum Nhiên bộc bạch: Trên địa bàn còn nhiều tuyến đường chưa được đầu tư xây dựng, nên mỗi khi đến mùa mưa việc đi lại rất vất vả, hiện còn đến năm xã chưa có đường ô-tô đến trung tâm. Riêng xã Chơ Chun còn khó khăn lắm. Mỗi lần cán bộ huyện xuống tiếp xúc, dân đều đề nghị Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng tuyến đường liên xã qua đây, nhưng vì ngân sách địa phương có hạn, nên đành "bó tay". Mới đây, tại Kỳ họp HÐND tỉnh, một số ý kiến đã đề cập đến sự khó khăn trăm bề của xã miền núi Chơ Chun, với hy vọng mong Nhà nước sớm đầu tư xóa được năm cái không. Ðó là, "Không đường, không trường, không trạm y tế, không điện và không thông tin - liên lạc", nhưng đến nay vẫn chưa có câu trả lời của các cơ quan chức năng... Và cũng không riêng gì ở huyện Nam Giang, mới đây, trở lại các huyện miền núi cao, chúng tôi chứng kiến các tuyến đường từ: xã Ga Ry đi A Xan, Tr’Hy đi Ch’Ơm (huyện Tây Giang); rồi từ xã Trà Linh đi Trà Cang (huyện Nam Trà My) bị xuống cấp nghiêm trọng và đang thi công dở dang vì thiếu vốn...

Ðồng chí Nguyễn Ngọc Quang cho biết: Trước hết tỉnh đã chỉ  đạo các cơ quan liên quan cùng với các địa phương sớm hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch về phát triển KT- XH miền núi. Trong đó, chú ý đến việc rà soát, điều chỉnh các quy hoạch khai thác khoáng sản, quy hoạch thủy điện, quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn; đồng thời nghiên cứu lập quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn theo vùng lãnh thổ, quy hoạch các vùng nguyên liệu, sản xuất hàng hóa tập trung; ưu tiên quy hoạch ba loại rừng và quy hoạch sắp xếp dân cư gắn quy hoạch đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới phù hợp với tình hình thực tế nhằm đạt mục tiêu vừa phát triển KT-XH với quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Sắp đến, ngoài việc thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách của Nhà nước, tỉnh sẽ hoàn thiện các cơ chế, chính sách về lồng ghép các dự án và chương trình giảm nghèo vào kế hoạch đầu tư phát triển chung của địa phương nhằm hạn chế việc phân tán nguồn lực, chồng chéo trong quản lý và tạo sự chủ động cho các huyện.

Mặt khác, tỉnh sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách nâng cao dân trí, hỗ trợ sản xuất và giảm nghèo ở khu vực miền núi. Mới đây, HÐND tỉnh đã ban hành nghị quyết chuyên đề về Chương trình tổng thể phát triển KT-XH miền núi giai đoạn 2013-2016 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, để đến năm 2016 đạt mục tiêu giảm hộ nghèo ở miền núi xuống còn 36% và thu nhập bình quân đầu người 11 triệu đồng/năm, hằng năm, tỉnh sẽ cân đối từ: nguồn tăng thu, vượt thu Ngân sách Nhà nước, nguồn thu cấp quyền sử dụng đất và các nguồn thu khác trên địa bàn, với mức tối thiểu 15 tỷ đồng/huyện/năm để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các huyện có tỷ lệ nghèo hơn 50%, nhưng chưa được hưởng chính sách hỗ trợ cho các huyện nghèo theo Nghị định 30a của Chính phủ. Ðồng thời huy động thêm các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước để xã hội hóa trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình trường học, y tế, giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương... Ðặc biệt, tỉnh sẽ đẩy mạnh thực hiện các giải pháp về: phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường và phát triển mạnh lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế... một cách hài hòa, bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa.

Chứng khoán ngày 2/7: Nhóm bất động sản ngược dòng thị trường, VN-Index lùi nhẹ dưới áp lực từ cổ phiếu ngân hàng

Phiên giao dịch ngày 2/7, sắc đỏ lan tỏa khắp thị trường chứng khoán Việt Nam. Sắc xanh của các cổ phiếu bất động sản dẫn đầu bởi VIC giúp thu hẹp đáng kể đà giảm của thị trường. Tuy nhiên, áp lực điều chỉnh tại nhóm ngân hàng, năng lượng khiến VN-Index giảm nhẹ 0,05%, trong bối cảnh thanh khoản toàn thị trường giảm.

Ông Phạm Chí Quang (bên phải), Vụ trưởng Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước).

Ngân hàng Nhà nước tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án trọng điểm, vẫn kiểm soát chặt rủi ro

Việc miễn room tín dụng đối với một số dự án quy mô lớn và các khoản vay dành cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất được Ngân hàng Nhà nước xác định là giải pháp nhằm tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng, song không đồng nghĩa với việc nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng.

Ông Trần Văn Vũ, Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng phát biểu tại buổi họp báo. (Ảnh: ANH ĐÀO)

GRDP Đà Nẵng tăng 9,52% trong 6 tháng đầu năm 2026

Ngày 2/7, Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng tổ chức Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2026. Theo đó, ngành xây dựng đạt mức tăng 23,28%, là ngành có tốc độ tăng cao nhất trong các ngành kinh tế thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm.

Một góc cụm công nghiệp Gia Thuận 1 (xã Gia Thuận, tỉnh Đồng Tháp).

Đồng Tháp phấn đấu thành lập thêm 8 cụm công nghiệp

Ngày 2/7, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho biết, địa phương đang triển khai thực hiện có hiệu quả phương án phát triển cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt và ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2026-2030.

Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội đã đồng loạt kiểm tra, phát hiện và tạm giữ hơn 5.000 sản phẩm mực in giả mạo các nhãn hiệu Epson và Canon.

Hà Nội: Phát hiện hơn 5.000 sản phẩm mực in giả mạo nhãn hiệu Epson và Canon

Tiếp tục triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường đấu tranh chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, ngày 1/7, Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội đã đồng loạt kiểm tra, phát hiện và tạm giữ hơn 5.000 sản phẩm mực in giả mạo các nhãn hiệu Epson và Canon.

Đảng bộ lãnh đạo toàn diện hoạt động của Tổng công ty, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho hơn 11 triệu khách hàng trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố miền bắc.

Đảng bộ EVNNPC vinh dự nhận cờ thi đua của Đảng bộ Chính phủ vì thành tích xuất sắc tiêu biểu 5 năm liền

Đảng bộ EVNNPC là một trong những đảng bộ có quy mô lớn trong Đảng bộ EVN với 33 tổ chức đảng trực thuộc và 1.464 đảng viên. Đảng bộ lãnh đạo toàn diện hoạt động của Tổng công ty, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho hơn 11 triệu khách hàng trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố miền bắc.

Các đại biểu bấm nút chính thức khởi công loạt công trình, dự án trọng điểm nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn-Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng 1/7/2026.

Sun Group khởi công dự án hơn 29.000 tỷ đồng kiến tạo trục không gian văn hóa ven sông Sài Gòn

Ngày 1/7/2026, trong khuôn khổ Lễ khởi công các công trình, dự án trọng điểm nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn-Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cùng Tập đoàn Sun Group đã khởi công Dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng-Khánh Hội và cây xanh công cộng Bến Bạch Đằng.

Quang cảnh buổi họp báo.

Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng bền vững

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều biến động khó lường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động, linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng.

Ảnh minh họa: Tân Hoa xã

Sáng 2/7: FED phát tín hiệu chưa tăng lãi suất, giá bạc đảo chiều tăng mạnh

Sáng 2/7, giá bạc phục hồi lên hơn 59 USD/ounce sau khi liên tiếp bị đẩy xuống mức thấp kỷ lục trong các phiên gần đây. Sự phục hồi của giá bạc được ghi nhận vào thời điểm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Kevin Warsh cho biết, kỳ vọng lạm phát đã hạ nhiệt trong tháng qua, cho thấy chưa có sự cấp thiết phải tăng lãi suất.

Cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình giải ngân vốn vay tại một điểm giao dịch.

Dòng vốn chính sách đồng hành phát triển bền vững

Sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, tỉnh Ninh Bình bước vào giai đoạn phát triển với không gian kinh tế-xã hội mở rộng hơn. Đồng hành cùng địa phương, nguồn vốn tín dụng chính sách tiếp tục được Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai đến tận cơ sở, góp phần hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách, bảo đảm an sinh xã hội.

[Interactive] Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

[Interactive] Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đề ra các mục tiêu cụ thể và toàn diện cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2030, tầm nhìn 2045, tập trung vào cả số lượng, chất lượng và tác động lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước.

Chính sách tín dụng học sinh, sinh viên được đề xuất sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng và nâng mức hỗ trợ. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Đề xuất nâng mức vay tín dụng học sinh, sinh viên lên 8 triệu đồng/tháng

Bộ Tài chính đề xuất nâng gấp đôi mức vay tối đa đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng/tháng; đồng thời mở rộng đối tượng thụ hưởng, điều chỉnh cơ chế lãi suất và hoàn thiện quy định về cho vay nhằm phù hợp hơn với thực tế chi phí học tập hiện nay.