Nhiều nguy cơ biến chứng khi sử dụng thạch tín trong nha khoa

Trước đây, thạch tín từng được sử dụng trong nha khoa để làm chết tủy với các trường hợp viêm tủy cấp, đau dữ dội nhưng gây tê không hiệu quả. Đến nay, thạch tín đã bị "khai tử" ở nha khoa chính thống.

Bác sĩ Bản tư vấn cho người bệnh.
Bác sĩ Bản tư vấn cho người bệnh.

Mới đây, cơ quan công an vừa triệt phá đường dây sản xuất, mua bán trái phép chất Arsenic trioxide (thạch tín trắng), được sản xuất thủ công, bán cho nhiều cơ sở nha khoa. Giới chuyên môn lo ngại thuốc diệt tủy trong nha khoa chứa thạch tín có thể gây hại cho sức khỏe, nếu không kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng.

Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) cho biết, phòng chức năng sẽ sớm rà soát lại dữ liệu cấp phép đăng ký thuốc, để xác định thuốc diệt tủy răng có chứa thạch tín (Asen) có được cấp phép hay không; nếu có, hiện có còn hiệu lực hay không.

Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Châu Bản, chuyên khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, thạch tín - Arsenic Trioxide (As₂O₃), loại chất độc bảng A hiện không còn được Bộ Y tế cho phép lưu hành và sử dụng trong nha khoa. Hầu hết, các nha khoa chính thống từ lâu không còn sử dụng thạch tín và chế phẩm này.

Việc loại bỏ thạch tín khỏi danh mục thuốc điều trị răng miệng, đặc biệt là diệt tủy xuất phát từ nguy cơ biến chứng cao như làm hoại tử mô tủy gồm mạch máu và thần kinh, đồng thời không còn phù hợp khi đã có nhiều phương pháp an toàn, hiệu quả hơn để kiểm soát đau và điều trị viêm tủy.

Bác sĩ Bản cho hay, điều đáng lo ngại là các phương pháp điều trị viêm tủy răng mang tính chuyên môn cao, trong khi phần lớn người dân khó có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin để hiểu rõ mình đang được điều trị bằng phương pháp hay loại thuốc nào.

Trên thực tế, dù bị cấm nhưng do khả năng làm chết tủy nhanh và chi phí thấp, thạch tín vẫn được một số cơ sở nha khoa hoạt động không phép, hoặc người không có chuyên môn dùng trong điều trị. Nhiều người bệnh chỉ được giải thích đơn giản là “đặt thuốc giảm đau” hoặc “thuốc làm chết tủy”.

Trước đây, thạch tín từng được sử dụng trong nha khoa để làm chết tủy với các trường hợp viêm tủy cấp, đau dữ dội nhưng gây tê không hiệu quả. Đây chỉ là giải pháp mang tính tạm thời trong giai đoạn y học còn hạn chế. Cùng với sự phát triển của y khoa, các phương pháp diệt tủy an toàn, hiện đại đã thay thế hoàn toàn chế phẩm từ chất độc thạch tín.

Theo bác sĩ, việc sử dụng thạch tín trong điều trị tủy răng hiện nay có lẽ xuất phát từ một số nhân viên làm việc tại các cơ sở nha khoa trước đây nhưng không được đào tạo bài bản, không cập nhật các khuyến cáo và phương pháp điều trị mới.

Theo chuyên gia này, về bản chất, thạch tín là một chất độc và chỉ định dùng với liều rất nhỏ, phải đặt đúng buồng tủy và giới hạn thời gian nghiêm ngặt (không quá 2-3 ngày), bác sĩ phải tư vấn rất kỹ cho người bệnh và người bệnh phải cam kết tái khám đúng lịch hẹn.

"Chỉ cần sai lệch về liều lượng, thời gian hoặc kỹ thuật không bảo đảm, độc chất có thể lan ra mô mềm và xương hàm, gây hoại tử nướu, xương ổ răng, thậm chí dẫn đến mất răng và di chứng lâu dài", bác sĩ Bản nói.

Bác sĩ Bản cho biết các biến chứng do sử dụng thạch tín khi điều trị tủy răng liên quan diễn ra âm thầm, mờ nhạt, rất khó nhận biết bằng cảm giác thông thường, đặc biệt với người không có kiến thức nha khoa. Người bệnh hầu như không thể tự phân biệt đâu là thuốc điều trị an toàn, đâu là chất đã bị cấm sử dụng. Vì vậy, việc điều trị răng miệng cần được thực hiện tại các bệnh viện, cơ sở y tế uy tín, tránh tin các quảng cáo “diệt tủy cấp tốc”.

Thời gian điều trị tủy hiện nay phụ thuộc vào mức độ viêm và tình trạng tổn thương của răng. Những trường hợp viêm tủy đơn giản, chưa có biến chứng quanh chóp, thường chỉ cần một đến hai lần điều trị. Với các trường hợp viêm tủy cấp, nhiễm trùng nặng hoặc đã có tổn thương xương quanh răng, quá trình điều trị có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng, kết hợp theo dõi đáp ứng điều trị trước khi phục hình răng.

Khi có bất kỳ biểu hiện bất thường nào trong quá trình điều trị hoặc sau khi đặt thuốc, người bệnh nên tái khám sớm để được kiểm tra và xử trí kịp thời, tránh nguy cơ biến chứng âm thầm kéo dài.

Có thể bạn quan tâm

Bác sĩ Nguyễn Tiến Thành thăm khám cho bệnh nhân - (Ảnh: BSCC)

Bảo vệ làn da tránh viêm da cơ địa mùa đông

Ghi nhận tại cơ sở chuyên khoa da liễu, số lượng bệnh nhân đến khám vì bệnh lý viêm da cơ địa tăng lên đáng kể trong những ngày hanh khô kéo dài, trong đó người bệnh có tổn thương lan rộng.

Các đại biểu tham dự hội nghị của Bộ Y tế chiều 22/2 tại Hà Nội.

Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, tạo môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch, lành mạnh

Chiều 2/2, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 46/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm, theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

Trụ sở Tổ chức Y tế thế giới tại Geneva, Thụy Sĩ. (Ảnh: THX/TTXVN)

Gam màu sáng tối trong bức tranh y tế thế giới

Năm 2025 ghi dấu những bước tiến mang tính lịch sử trong lĩnh vực y tế toàn cầu. Theo đó, trải qua nhiều năm đàm phán cam go, các thành viên Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức thông qua hiệp ước quốc tế đầu tiên về phòng ngừa, ứng phó đại dịch trong tương lai.

Hành khách nhập cảnh khu vực nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Virus Nipah xâm nhập cơ thể như thế nào?

Virus Nipah lây truyền sang người chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của dơi, chim hoặc người bệnh, không lây qua không khí xa như Covid-19. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), virus Nipah gây viêm não cấp và suy hô hấp, tỷ lệ tử vong cao 40-75%.

E kíp thực hiện kỹ thuật ECMO cứu sống bệnh nhân.

Cứu sống bệnh nhân viêm tụy cấp nhờ kỹ thuật can thiệp ECMO

Ngày 30/1, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho biết: Các bác sĩ khoa Hồi sức tích cực–Chống độc vừa cứu sống một bệnh nhân viêm tụy cấp, sốc nhiễm trùng, viêm phổi biến chứng ARDS (hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển) mức độ rất nặng nhờ áp dụng kỹ thuật can thiệp ECMO (Hybrid ECMO).