Nâng cao hệ số thu hồi dầu mỏ

Nhóm tác giả thuộc Viện Dầu khí Việt Nam đã nghiên cứu và ứng dụng cụm công trình: “Nghiên cứu, lựa chọn giải pháp và phát triển, ứng dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu cho đối tượng trầm tích lục nguyên của các mỏ dầu tại bể Cửu Long, thềm lục địa Việt Nam”. Công trình được đánh giá rất kịp thời khi sản lượng khai thác dầu đang có xu hướng giảm.
Khai thác dầu tại khu vực mỏ Bạch Hổ. (Ảnh TIẾN DŨNG)
Khai thác dầu tại khu vực mỏ Bạch Hổ. (Ảnh TIẾN DŨNG)

Cụm công trình đã đoạt giải nhất Giải thưởng Sáng tạo Khoa học, Công nghệ Việt Nam năm 2022 trong lĩnh vực công nghệ nhằm ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên. Tiến sĩ Nguyễn Minh Quý, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, chủ nhiệm đề tài, chia sẻ: Áp dụng các công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu trên thực tế luôn tiềm ẩn rủi ro về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế do chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng từ đặc trưng vỉa chứa dầu, công nghệ mỏ đến công nghệ khai thác, cơ sở hạ tầng của khu vực...

Vì vậy, nhóm đã nghiên cứu chi tiết và đánh giá cụ thể các thông số vỉa chứa cho từng đối tượng áp dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu từ địa chất, địa vật lý đến công nghệ mỏ, thiết bị lòng giếng, công nghệ khai thác và hệ thống thu gom trên giàn. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được giải pháp công nghệ có tính khả thi nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu phù hợp từng đối tượng, từng mỏ đang khai thác.

Đối với bể Cửu Long, nhóm tác giả đã nghiên cứu xây dựng phương án tổng thể các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu, đồng thời nghiên cứu chế tạo các tác nhân hóa, khí để đáp ứng các điều kiện thực tế của các mỏ dầu. Áp dụng thực tế cho thấy, có thể nâng cao hệ số thu hồi từ 1,5% đến 2% và tổng sản lượng dầu gia tăng đạt từ 50 triệu đến 150 triệu thùng, giúp tối ưu khai thác tài nguyên đóng góp lớn về hiệu quả kinh tế.

Nói về tính mới của cụm công trình, Thạc sĩ Phạm Trường Giang, Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, cụm công trình đã tiếp cận và áp dụng những công nghệ cốt lõi của cách mạng công nghiệp 4.0 vào thực tiễn sản xuất của ngành Dầu khí Việt Nam, tiên phong đổi mới hoạt động sản xuất thông qua khoa học-công nghệ, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội cho đất nước.

Cụm công trình đã áp dụng đồng thời các phương pháp thông thường để nghiên cứu và xây dựng được phần mềm đánh giá lựa chọn các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (phần mềm VPI EOR Screening) và bộ cơ sở dữ liệu về nâng cao hệ số thu hồi dầu.

Đây là phần mềm đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực nâng cao hệ số thu hồi dầu phục vụ nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên thiên nhiên. Điểm nhấn quan trọng nhất của cụm công trình nghiên cứu này là Viện Dầu khí Việt Nam đã cùng Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro tiến hành bơm ép thử nghiệm hóa phẩm VPI SP vào khu vực thử nghiệm tại mỏ Bạch Hổ, giúp gia tăng sản lượng khai thác. Kết quả thử nghiệm cho hiệu quả rất tốt, vượt mục tiêu đặt ra ban đầu, với tổng sản lượng khai thác dầu gia tăng sau sáu tháng đạt 2.700 tấn dầu.

Kết quả này càng ý nghĩa khi các mỏ dầu ngoài khơi có điều kiện nhiệt độ và áp suất vỉa cao, tính chất phức tạp về cấu trúc địa chất, mức độ bất đồng nhất của vỉa chứa, hàm lượng khoáng hóa trong nước vỉa cao... trong khi các sản phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu trên thế giới chưa đáp ứng được yêu cầu hoặc số ít sản phẩm có thể sử dụng được nhưng lại có giá thành cao.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Đức, Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), việc nghiên cứu chế tạo được hóa phẩm VPI SP phù hợp và có hiệu quả với đặc điểm phức tạp về địa chất và khai thác của các mỏ dầu khí tại Việt Nam cũng như chế tạo được hệ thống thiết bị sản xuất hóa phẩm quy mô pilot sẽ là tiền đề để sản xuất ở quy mô công nghiệp.

Đây là nghiên cứu đầu tiên Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện theo một chu trình khép kín từ phòng thí nghiệm, sản xuất hóa phẩm ở quy mô pilot và ứng dụng thử nghiệm thực tế, với mục tiêu thu được tài nguyên của đất nước hiệu quả hơn trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.

Cụm công trình này khẳng định năng lực nghiên cứu khoa học và công nghệ của Viện Dầu khí Việt Nam nói riêng, của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói chung trong việc làm chủ công nghệ sản xuất hóa phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu, góp phần gia tăng sản lượng khai thác dầu khí của Việt Nam.

Đánh giá về đề tài, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Kiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu công trình cho rằng, kết quả tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế cho thấy hiệu quả trực tiếp mang lại của giải pháp công nghệ áp dụng thử nghiệm trong sáu tháng giúp gia tăng hơn 2.700 tấn dầu, làm lợi tương đương 700 nghìn USD.

Động thái khai thác các giếng trong khu vực thử nghiệm cho thấy hóa phẩm vẫn đang tiếp tục có hiệu ứng tích cực, giúp gia tăng thu hồi dầu trong thời gian tới (dự kiến sẽ kéo dài trong hai năm). Kết quả của cụm công trình là tiền đề quan trọng để có thể tiến tới sản xuất quy mô công nghiệp cũng như đẩy mạnh khả năng ứng dụng hóa phẩm nâng cao hệ số thu hồi cho các mỏ dầu tại Việt Nam; góp phần nâng cao sản lượng khai thác dầu thô đang sụt giảm của Việt Nam, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao không chỉ cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam mà còn góp phần vào tăng trưởng và phát triển của đất nước.

Đây là đề tài mang tính ứng dụng và thực tiễn cao, có thể mở rộng phạm vi ứng dụng giải pháp công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu bằng hóa phẩm VPI SP do Viện Dầu khí Việt Nam nghiên cứu và phát triển cho các đối tượng khai thác trong mỏ Bạch Hổ cũng như các mỏ dầu khí đang khai thác tại bể Cửu Long, thềm lục địa Việt Nam.

Nghiên cứu này càng có ý nghĩa khi các mỏ dầu ngoài khơi có điều kiện nhiệt độ và áp suất vỉa cao, tính chất phức tạp về cấu trúc địa chất, mức độ bất đồng nhất của vỉa chứa, hàm lượng khoáng hóa trong nước vỉa cao… trong khi các sản phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu trên thế giới chưa đáp ứng được yêu cầu hoặc số ít sản phẩm có thể sử dụng được nhưng lại có giá thành cao.

Có thể bạn quan tâm

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kiến trúc “vòm xanh” do kiến trúc sư An Việt Dũng thiết kế.

Kiến trúc cho đô thị xanh

Cửa thang máy tầng thượng tòa nhà 11 tầng trên phố Lê Duẩn (Hà Nội) vừa mở, đón chúng tôi không phải cái nắng chói chang buổi trưa mùa hạ mà là một không gian xanh mát. Cùng với bóng cây là hệ thống phun sương và gió trời khiến cảm giác ngột ngạt đô thị dường như biến mất.

UAV sử dụng trong tuyến giao hàng Cần Giờ-Vũng Tàu.

Nền móng vận hành kinh tế tầm thấp

Kinh tế tầm thấp mở ra một không gian phát triển mới, còn hạ tầng số chính là nền móng để không gian ấy vận hành hiệu quả. Làm chủ những hạ tầng này sẽ quyết định khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế tầm thấp và trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong các ngành công nghệ chiến lược của tương lai.

Kiểm chứng thông tin là kỹ năng quan trọng nhất của người dùng trên không gian mạng.

Thuật toán mạng xã hội bị lợi dụng cho các kịch bản lừa đảo

Chỉ với vài dòng lệnh, các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay có thể tạo ra một bài viết, hình ảnh, giọng nói hoặc video giả mạo với chất lượng rất cao. Tuy nhiên điều khiến tin giả và các chiêu trò lừa đảo công nghệ cao lan truyền với tốc độ chóng mặt chính là thuật toán đề xuất nội dung của các nền tảng mạng xã hội.

Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng phát biểu tại Hội nghị triển khai hoạt động khoa học và công nghệ năm 2026. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Đại học cần chuyển mạnh từ "nghiên cứu để công bố" sang tạo sản phẩm phục vụ phát triển đất nước

Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học trong thời gian tới cần chú trọng hướng tới việc tìm lời giải để chuyển các chủ trương, chính sách mới thành năng lực nghiên cứu thực chất; thành công nghệ, sản phẩm, nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng góp cụ thể cho sự phát triển của đất nước.

Lễ khởi động dự án quy tụ đại diện từ các cơ quan chính phủ, các đối tác phát triển, khu vực tư nhân, cộng đồng học thuật, các tổ chức thanh niên cùng các bên liên quan trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. (Ảnh: HNV)

Thử thách thanh niên đổi mới sáng tạo vì cộng đồng bền vững

Các nhà đổi mới sáng tạo trẻ trên toàn quốc sẽ có cơ hội nhận được khoản hỗ trợ lên tới 15.000 USD, sự cố vấn từ các chuyên gia, các cơ hội thử nghiệm thực tế và tham gia chuyến tham quan, học tập về đổi mới sáng tạo tại Hàn Quốc thông qua dự án RE:ACT - Thử thách thanh niên đổi mới sáng tạo vì cộng đồng bền vững.