Một chút hồi ức Mười hai ngày đêm B52 Hà Nội

Những ngày ấy Hà Nội như gồng lên trong bom đạn. Theo chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, anh em chúng tôi ở Quảng Bá tạm ngừng lên lớp nghe giảng, mà chuyển sang những ngày đi thực tế sáng tác. Tôi cùng một số bạn viết liền đi đến các điểm nóng để thâm nhập thực tế, nếu chưa sáng tác được thì viết bài cho các báo. Ban ngày, người đến khu tập thể An Dương, người sang Gia Lâm, người thì tới Ðông Anh... Và tối đến lại về Quảng Bá, để nghỉ lấy lại sức, hoặc viết bài cho báo chí...
Một góc phòng triển lãm 40 năm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không.
Một góc phòng triển lãm 40 năm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không.

Hồi ấy, tôi đang dự Lớp bồi dưỡng các nhà văn trẻ khóa V, ở Quảng Bá, Hà Nội. Ngày 18-12-1972 là 13-11 âm lịch, đã vào tiết đông chí, Hà Nội rét lắm. Mới tối được một lúc thì còi báo động thành phố rú lên với giọng rất khác thường. Nhóm nhà văn trẻ chúng tôi, có khá nhiều người từ tuyến lửa, từ chiến trường tụ tập về, cũng đã khá quen với chiến sự, nên không mấy ai thấy ngạc nhiên, chỉ bình thản ra các hầm trú ẩn sẵn có. Nhưng, khi máy bay Mỹ tập kích vào thành phố, tiếng chúng rền trên trời đêm, và nhất là khi những chùm bom chúng rải xuống, tôi thấy không bình thường chút nào.

Tôi và nhà thơ Cảnh Trà ngồi cùng căn hầm trú ẩn, tự nhiên tôi thốt lên: "B52?". Cảnh Trà trả lời ngay: "Chắc rồi". Cảnh Trà trụ ở Vĩnh Linh, còn lạ gì các loại bom đạn Mỹ. Còn tôi, cũng đã biết mấy đợt B52 ném bom rải thảm xuống Hàm Rồng, Nam Ngạn, Ðình Hương, thị xã Thanh Hóa. Tiếng bom do máy bay B52 từ 10.000 mét trên trời ném xuống xiết vào không khí kêu rít lên rất khác với bom do các loại máy bay cường kích khác ném xuống; và khi bom nổ rền từng hồi, người ngồi trong hầm trú ẩn thấy bị chao đảo như ngồi trong cối xay lúa...

Sáng hôm sau, nghe Ðài Tiếng nói Việt Nam đưa tin, tất cả đều biết, tối hôm trước, máy bay B52 của chính quyền Ních-xơn đã đánh vào Hà Nội và Hải Phòng. Chúng đã ném bom rải thảm vào khu tập thể An Dương (cách chỗ chúng tôi ở chừng một cây số), vào khu đông dân ở Uy Nỗ, Ðông Anh và xã Giang Biên, Gia Lâm. Cũng như mọi người khác ở Thủ đô khi ấy, chúng tôi nhận ra ngay rằng, một sự kiện rất trọng đại đã xảy ra tại Hà Nội, sau này sử sách đã ghi là "Mười hai ngày đêm B52", hoặc: "Chiến dịch Ðiện Biên Phủ trên không". Thủ đô đã thật sự là một chiến trường rồi. Và hơn thế, Hà Nội đã bước vào một chiến dịch rất lớn!

Ngày tiếp theo, cũng vào khoảng 8 giờ 30 tối, B52 Mỹ lại đánh vào thành phố. Một số anh em chúng tôi, hoặc ngồi ngấp nghé trên miệng hầm, hoặc đi ra tận chân đê Quảng Bá để có thể chứng kiến cuộc chiến vô cùng lớn trên bầu trời Thủ đô. Suy cho cùng, những hầm trú ẩn mà chúng tôi có thể náu mình đâu có tác dụng gì đối với bom B52 rải thảm. Chúng tôi bất cần, do vậy đã được thấy bốn phía trời đều có đạn lửa bắn lên, cháy rực. Và nhiều lần chúng tôi đã reo lên khi thấy máy bay B52 cháy trên bầu trời Hà Nội...

Bom B52 rải thảm xuống Uy Nỗ, Cổ Loa, có gia đình cả bố mẹ, con cháu đều tử thương, nhiều mái đầu mang khăn tang, rất thương tâm. Ga Ðông Anh, những đường ray xe lửa bị xô dựng tua tủa lên trời. Ở làng Yên Mỹ, Kim Anh, người sống chôn người tử nạn suốt đêm đến sáng. Làng Sơn Ðồng, ở gần Trạm Trôi, Hoài Ðức, sau đêm B52 rải thảm, mấy chục chiếc quan tài mầu đỏ chói sắp măng ở đầu bờ ruộng, chờ làm lễ an táng... Tang tóc, đau thương thật to lớn vô cùng! Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thật lạ thường, những người sống làm đám tang cho người chết bom B52, ngoài những tiếng khóc thảm thiết thương tâm của những ai không kìm nổi, còn lại là những gương mặt xạm đen vì bụi bặm, hốc hác vì thiếu ngủ, mím môi chôn người chết. Ðó thật sự là những con người cắn răng, nuốt nước mắt!

Tôi đạp xe về Sơn Ðồng, Trạm Trôi một ngày. Hôm sau lại quay về nội thành Hà Nội. Ðêm 24-12, tôi cùng một số bạn viết nằm tại căn hầm phòng không của báo Lao Ðộng, tại 51 phố Hàng Bồ. Là lễ Nô-en, nên không thấy có báo động. Ngày hôm sau cũng yên tĩnh, nhưng người Hà Nội hiểu, đó là sự yên tĩnh trước bão táp. Mấy ngày trước, B52 đã rải thảm cả vào Bệnh viện Bạch Mai. Và ngày càng thấy rõ, chính quyền Ních-xơn chủ trương đánh vào khu đông dân cư. Ðó là cách chúng muốn đánh vào ý chí của người Hà Nội, của người Việt Nam ta. Kết cục, mỗi đêm tập kích vào Hà Nội, đã có nhiều B52 cùng những máy bay khác của chúng bị bắn hạ! Tuy thế, chính quyền Mỹ lúc ấy vẫn dấn lên nấc thang tội ác cao hơn. Ðêm 26-12-1972, B52 của chúng đã ném bom rải thảm xuống Khâm Thiên, một phố có mật độ dân cư đông bậc nhất Hà Nội. Trận bão bom này đã hủy diệt sáu cụm dân cư, giết chết 287 người và khiến 290 người bị thương, phá hủy gần hai trăm ngôi nhà, cả đền chùa, trạm y tế và trường học, khiến 2.469 gia đình mất chỗ ở...

Sáng sớm ngày 27-12-1972 tôi đến Khâm Thiên. Những tang thương đổ nát ở đây thật kinh hoàng! Từng chứng kiến nhiều cảnh đạn bom ác liệt ở Hàm Rồng, Nam Ngạn, Yên Vực, những dãy phố ở thị xã Thanh Hóa... nhưng tôi chưa thấy chiến tranh dữ dội, đau thương nặng nề như ở Khâm Thiên này. Ở đây dân cư sống dày đặc quá mà bom Mỹ rải xuống cũng dày đặc quá! Giờ đây nhớ lại, tôi không muốn mô tả lại cảnh người sống moi từ đổ nát tìm thi thể người chết, những giọng người khóc hoặc gọi thân nhân đang bị vùi trong đổ nát, đã đều khản đặc; và từng chỗ, từng chỗ, người ta xếp những chiếc quan tài... Báo chí những ngày ấy đã thông tin đầy đủ, chi tiết những cảnh tượng đó. Ðặc biệt là sức chịu đựng đau thương mất mát của người Hà Nội để làm nên một Ðiện Biên Phủ trên không vĩ đại, cũng được báo chí nói tới rất nhiều. Riêng tôi, ngay tại phố Khâm Thiên hôm 27-12-1972 ấy, đã viết thầm trong đầu bài thơ Chiếc chiếu Khâm Thiên, sau mới chép gửi đăng báo. Bài thơ, giờ như một kỷ niệm buồn thương về Mười hai ngày đêm B52 bốn mươi năm trước, xin gửi tới bạn đọc hôm nay:

Bom tuốt hết lá cây xoan
và ném manh chiếu lên đấy
có lẽ ngày qua
và những ngày trước nữa
một bé em từng ngủ vùi trong lòng mẹ
trên chiếc chiếu này

Giờ thì những con chim mất tổ
cũng không muốn đáp xuống đây
bởi chim cần những vòm lá tươi
chim cần những sợi dây biết hát,
những chú kiến cần cù
cũng không tìm lên manh chiếu nữa
chẳng còn giọt kẹo nào rớt lại
mà rặt những mùi bom...

Kiến, chim và trẻ con
sẽ mãi mãi không cần manh chiếu này nữa,
chỉ còn những cành xoan
như những cánh tay nhiều khổ đau gầy sắt lại
kiên nhẫn trải chiếc chiếu lên trời

Những cánh tay khổ đau kia muốn mời
những tâm  hồn trót quên mất Hirosima
những tâm hồn chưa hiểu hết bản chất giặc xâm lược

trên trái đất hôm nay
hãy đến và đậu lại một chút
nơi chiếc chiếu Khâm Thiên này!

Có thể bạn quan tâm

Truyện ngắn của THANH QUANG

Về cùng mùa hoa

Khách ngắm nghía một hồi rồi gật đầu. Trong Thành, òa lên một niềm vui sướng. Làm việc với người có tiền, am hiểu nghệ thuật sướng thật. Hai tác phẩm điêu khắc hình ngựa của anh được mua với giá cao.

Ban tổ chức trao giải cho các tác giả trong cuộc thi “Thơ ca và nguồn cội”. (Ảnh Diên Khánh)

Một hành trình văn học đậm suy tư

Nhiều hoạt động, nhưng không nhiều lắng đọng, năm 2025, văn học Việt Nam sôi nổi qua những hội nghị, hội thảo cũng như các cuộc tổng kết, trao giải thưởng.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Chiếc bàn xoay cô độc

Cơn mưa phùn mang theo cái lạnh thấu xương thấm vào mọi ngõ ngách, mọi kẽ nứt của bức tường đá ong cũ kỹ.

Minh họa Nguyễn Minh

Điệu hò Cố Giang

Bấc trở ngọn đột ngột. Bảnh mắt sáng đã thấy gió se se lùa khắp đồng bưng. Lúa ngậm sữa, thơm phơn phớt cánh mũi. Bông oằn, trĩu cong lé đé mặt ruộng.

Minh họa VĂN HỌC

Xứ nước lên

Phải rời bỏ cái chốn này khi nước lên. Hồi đó, cứ nghĩ tới những cuộc đi là Khê buồn muốn khóc.

Minh họa: VĂN HỌC

Tro bụi ngược chiều

Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.

Minh họa: Nguyễn Minh

Trăng sau bão

Về đến Hoàng Phủ lúc giữa chiều, gió se sắt làm những tán cây nhuốm bùn kêu lào rào.

Minh họa của VĂN HỌC

Người đâu gặp gỡ làm chi...

Phương ngồi bên cửa sổ, lặng lẽ nhìn ánh nắng chiều dần tắt. Từ căn nhà nhỏ của cô có thể nhìn ra cánh đồng lúa chín vàng. Mùi thơm của đất trời, mùi lúa tràn về khoảng không gian tĩnh lặng, thanh bình.

Minh họa: Trần Xuân Bình

Trên những dấu thu

Nhân đẩy cánh cổng sắt bước vào khoảng sân nhỏ. Ùa vào lòng anh là hương mộc ngọt ngào làm anh nhớ lại những năm tháng êm đềm.

Minh họa: Trần Xuân Bình

Cơm đục

Những hạt cát mà anh đã lén trộn trong chén cơm năm đó, chắc bà già mù không nhớ đâu. Nội nói khi người hóa khói, nhẹ tênh một đời, không còn gì để nhớ thương hay oán giận. Cứ vậy mà tan.

Minh họa của Văn Học

Màu hoa tím trong mưa

Thành phố đã mưa suốt hai tuần không dứt. Những sợi tơ mảnh nối nhau tuôn xuống từ trời rồi hợp thành dòng chảy miên man qua từng con ngõ nhỏ. Hơi ẩm bám vào tường làm dãy nhà tập thể tróc vữa già thêm mấy chục năm. Âm thanh rả rích len vào giấc ngủ nghe buồn như tiếng khóc.

Bìa tập thơ "Hoa nắng".

Hương sắc và ánh sáng từ "Hoa nắng"

Vào dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, 80 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, NXB Hội Nhà văn chọn in tuyển tập thơ của nhà báo, nhà thơ Hồng Vinh, khẳng định sự đóng góp của ông trên lĩnh vực báo chí và văn học, tôn vinh một nhà báo cách mạng có ảnh hưởng xã hội xuyên suốt hai thế kỷ.

Minh họa của NGUYỄN MINH

Bình minh mang màu ký ức

Bình minh nhuộm vàng lòng chảo, nhuộm cánh đồng lúa chín và những dãy núi xa. Cánh đồng Mường Thanh, nơi tôi chiến đấu, ở lại và sống trọn đời người. Đời người ngắn hay dài, dòng Nậm Rốm hiểu rõ.

Minh họa: Nguyễn Minh

Qua mùa nước cạn

Nắng sồng sộc phả lên mặt người. Nóng bỏng rát lên từng thớ da. Đất nung lên chân, xuyên qua gót nứt nẻ, đi một bước đã thấy bưng bức.

Minh họa: Nguyễn Minh

Lời biển

Biển đón tôi bằng tiếng sóng dịu êm. Biển mênh mông bình yên đã dưỡng nuôi làng chài, để tôi và số ít trai gái có thể đi xa hơn.

Minh họa: Nguyễn Minh

Nài ngựa

Bây giờ khi đã lớn khôn, xa ký ức quê hương một quãng dài cả về thời gian và khoảng cách, nhưng mỗi lần nhìn cỗ xe ngựa đậu trong viện bảo tàng hay những khu du lịch sinh thái miệt vườn, là lòng tôi lại dâng lên cảm giác thân thương, thắm thiết.

Minh họa: Chu Văn

Vì một lời hứa nhỏ

Chỉ thiếu nửa điểm nữa thôi là tôi đã đạt điểm tuyệt đối ở cả ba môn thi đại học. Nhưng điều đó không khiến tôi bất ngờ.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Giờ đẹp

Sáng nay, thời tiết bình thường, trời không nắng, chẳng mưa, chỉ hơi ưng ửng vàng, gió thổi nhẹ. Nghe nói, mấy ngày tới sẽ có đợt áp thấp.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Kho báu

Trong thung lũng khuất sâu, bị nuốt chửng bởi những đỉnh núi Đá Đen sừng sững, có một ngôi làng nhỏ mang tên Thanh Bình. Thế nhưng, mấy năm qua, những người dân nơi đây lại chưa bao giờ được hưởng trọn vẹn hai chữ ấy. Hạn hán kéo dài như một lời nguyền tàn độc bủa vây.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Miền chân sóng xôn xao

Chiều nhẹ. Nắng mỏng như tờ giấy. Sóng ập òa bình yên. Bọn trẻ rộn rã nói cười. Tất cả im lặng khi anh dõng dạc hướng dẫn bài vẽ sóng. Anh bảo bọn trẻ tả sóng, nhưng phải theo cách nghĩ của mình. Thương im lặng.

Minh họa: Nguyễn Minh

Những cái cây trong thành phố

Nhi ngồi làm việc cạnh một ô cửa bằng kính chẳng bao giờ mở. Cái chốt cửa bằng sắt hoen gỉ nằm im trong bức tường đầy hơi máy lạnh.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Phía trăng lên

Thức liên tục gắp thức ăn cho mẹ. Sự cố gắng của con trai cả khiến bà Mai thấy thương. Bà biết, con dâu chẳng ưa gì mình, còn Thức cố xóa nhòa khoảng cách mẹ chồng, nàng dâu.
Minh họa: DƯƠNG ĐÍNH

Mầm xanh ký ức

Xuồng vừa chạm bến thì tiếng đạn bất ngờ nổ rền như sấm xé tan màn đêm. Địch phục kích! Lửa lóe sáng giữa bóng tối, tiếng súng rát tai dội vang cả khúc sông. Nhóm người vội tản ra, người lao lên bờ, người len qua cầu khỉ, người lặn mình vào lùm cây tối sẫm.
Minh họa: Nguyễn Minh

Về may áo lụa

Trăng trải thành thảm vàng, bao phủ cả làng mạc, bãi dâu. Anh hòa mình vào ánh trăng với ngàn ngạt hương dâu, như sợ nay mai vùng Ngàn Hương sẽ bị cày xới.
Minh họa: Nguyễn Minh

Mùa hoa đã cũ

Góc phố có cây lan hoàng dương. Mùa xuân, hoa rủ xuống từng chùm rực rỡ.