Mốc son chói lọi của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, có những sự kiện không chỉ được ghi lại bằng tư liệu, mà còn được lưu giữ qua ký ức của những người trực tiếp thực thi sứ mệnh ngoại giao đầy cam go. Hội nghị Paris và việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973 là mốc son chói lọi để lại cho chúng ta bài học vô giá về nghệ thuật đàm phán Việt Nam.

Trân trọng di sản ấy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật giới thiệu bộ đôi ấn phẩm: Hiệp định Paris - Thắng lợi của ý chí độc lập, tự chủ và chính nghĩa Việt Nam của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris của Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ.

Sự kết hợp giữa hồi ức chân thực và tư liệu hệ thống đã tái hiện trọn vẹn bản lĩnh, khí phách Việt Nam trên bàn đàm phán lịch sử.

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, được ký kết ngày 27/01/1973 tại Pháp, là kết quả thắng lợi của một “mặt trận” đặc biệt, nơi diễn ra cuộc đấu trí quyết liệt giữa các bên, phản ánh cục diện của cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thắng lợi của Hiệp định Paris là kết tinh sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời khẳng định sức mạnh của chính nghĩa trên trường quốc tế. Không chỉ làm thay đổi cục diện chiến tranh, Hiệp định Paris còn mở ra bước ngoặt chiến lược, tạo tiền đề quan trọng cho tiến trình đi tới hòa bình, thống nhất đất nước.

z7690590272396-76d82f3b6238174239844a3d8848a1da.jpg
Hai ấn phẩm: Hiệp định Paris - Thắng lợi của ý chí độc lập, tự chủ và chính nghĩa Việt Nam của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris của Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ.

Trong bối cảnh ấy, bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam, sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, không chỉ là người trực tiếp tham gia, mà còn là một trong những nhân vật để lại dấu ấn sâu đậm của ngoại giao Việt Nam tại Hội nghị Paris. Cuốn sách của bà vì vậy không đơn thuần là một công trình nghiên cứu, mà còn là những trang hồi ức chân thực, giàu cảm xúc, đưa người đọc trở lại không khí sôi động và đầy thử thách của bàn đàm phán.

Từ những diễn biến quan trọng của tiến trình đàm phán đến những chi tiết đời thường, từ không khí căng thẳng trong các phiên họp đến những cuộc tiếp xúc bên lề, tất cả được tái hiện qua trải nghiệm trực tiếp của người trong cuộc. Những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhưng giàu ý nghĩa đã góp phần làm nên sức sống của tác phẩm, giúp lịch sử trở nên gần gũi, cụ thể và dễ tiếp cận hơn với độc giả hôm nay.

Hình ảnh nhà ngoại giao Nguyễn Thị Bình được thể hiện trong cuốn sách với phong thái điềm tĩnh, tự tin, cùng cách ứng xử linh hoạt nhưng kiên định. Những ấn tượng mà bà để lại với báo chí và bạn bè quốc tế, từ sự rõ ràng, khúc chiết trong phát biểu đến sự mềm dẻo trong đối thoại không chỉ phản ánh bản lĩnh cá nhân, mà còn là biểu hiện sinh động của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam. Ở đó, sự kiên định về nguyên tắc luôn song hành với sự linh hoạt trong sách lược, thể hiện rõ phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, góp phần tạo nên hiệu quả của quá trình đàm phán trong bối cảnh quốc tế đầy phức tạp.

Bên cạnh việc tái hiện tiến trình Hội nghị Paris, cuốn sách còn khắc họa sinh động chân dung các nhà lãnh đạo, nhà ngoại giao xuất sắc của Việt Nam. Từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng, đến các đồng chí: Nguyễn Duy Trinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Hữu Thọ, Xuân Thủy, mỗi nhân vật đều hiện lên với những nét riêng về tư duy, phong cách và bản lĩnh. Những trang viết này không chỉ mang ý nghĩa hồi ức cá nhân, mà còn góp phần lý giải những yếu tố làm nên thắng lợi của ngoại giao Việt Nam tại Paris. Đó là sự kết hợp giữa tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và trí tuệ tập thể, những yếu tố quyết định trong những thời khắc bước ngoặt của lịch sử.

Đáng chú ý, cuốn sách làm nổi bật tinh thần “vừa đánh, vừa đàm” - một sách lược nhất quán trong suốt quá trình kháng chiến. Bàn đàm phán Paris không tách rời chiến trường, mà gắn bó chặt chẽ với những diễn biến thực tiễn, tạo nên thế và lực cho Việt Nam trong quá trình thương lượng.

Hội nghị Paris diễn ra từ ngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973, với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Cố vấn Henry Kissinger, 500 cuộc họp báo và khoảng 1.000 cuộc phỏng vấn. Những cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger hết sức đặc biệt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh cuộc đàm phán công khai không giải quyết được vấn đề. Những cuộc gặp riêng này đã được hai nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ kể lại trong cuốn sách Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa.

Thông qua những ghi chép, tư liệu phong phú, lời kể chân thực, giàu sức thuyết phục, bức tranh toàn cảnh về Hội nghị Paris đã được phác họa sắc nét, sống động. Với tính cách cương trực, thẳng thắn, Lê Đức Thọ đã khiến ngay cả Kissinger cũng phải kính trọng và thừa nhận rằng tuy không được đào tạo về ngoại giao nhưng ông là một nhà ngoại giao lão luyện, rất kiên định và kiên trì với mục tiêu của mình.

Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam hiện đại, hiếm có cuộc đàm phán nào kéo dài, cam go và phức tạp như Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Các cuộc đàm phán, đấu trí căng thẳng, kéo dài giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger được kể lại theo tiến trình thời gian diễn ra cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, qua đó làm nổi bật âm mưu, chiến lược của phía Mỹ, đồng thời làm rõ quan điểm, sách lược và bản lĩnh ứng xử linh hoạt, kiên định của ta.

Hiệp định Paris năm 1973 là kết tinh từ cuộc đấu tranh kiên cường, đầy trí tuệ của toàn dân tộc Việt Nam, tạo nên bước ngoặt quyết định mở đường cho thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Thắng lợi tại Hội nghị Paris là kết tinh của ý chí sắt đá và tinh thần quyết chiến bảo vệ chân lý độc lập, tự do của dân tộc. Đó là minh chứng hùng hồn cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bản lĩnh và nghệ thuật của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa trên chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris năm 1973 mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và lịch sử ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một mốc son không bao giờ phai mờ. Với hai cách tiếp cận khác nhau, hai cuốn sách không chỉ cung cấp tư liệu quý giá mà còn lan tỏa bài học về bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và những bài học trong công tác ngoại giao từ Hội nghị Paris vẫn còn vẹn nguyên giá trị, giúp người đọc hôm nay hiểu sâu sắc hơn về quá khứ, là nguồn cảm hứng góp phần bồi đắp niềm tự hào dân tộc và bản lĩnh cho các thế hệ hôm nay trên hành trình hội nhập và phát triển.

Có thể bạn quan tâm

Một góc lễ hội Khô Già Già 2026 ở Y Tý (Lào Cai).

Lễ hội Khô Già Già nơi lưng trời Y Tý

Lên Y Tý dự lễ hội Khô Già Già lần này, chúng tôi phải lựa chọn một trong ba cung đường Trịnh Tường, Mường Hum và đường tuần biên dọc bờ sông Hồng mà mấy năm rồi do thiên tai đều bị hư hỏng, sạt lở nặng nề.

Chợ Tân Định có kiến trúc độc đáo. (Ảnh: LINH BẢO)

Chợ Tân Định tròn 100 năm tuổi

Sáng 24/7, Ủy ban nhân dân phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển chợ Tân Định (1926-2026) với chủ đề: “Chợ Tân Định-Bản sắc và tự hào”.

Các chương trình mang đậm bản sắc văn hóa luôn thu hút đông đảo người xem trên nền tảng số. (Ảnh: KHÁNH AN)

Kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian số

Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong bốn khoảng trống lớn sau thời gian thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW đó là “sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số”.

Để một nền âm nhạc có thể phát triển bền vững trên thị trường toàn cầu cần hội đủ ba yếu tố: bản sắc riêng, cộng đồng người hâm mộ đủ mạnh và hạ tầng tổ chức đạt chuẩn quốc tế.

Mang bản sắc Việt lên sân khấu quốc tế

Sự quan tâm ngày càng lớn của truyền thông và các tập đoàn giải trí quốc tế đang mở ra cơ hội để âm nhạc đại chúng Việt Nam (V-Pop) khẳng định vị thế, từng bước chinh phục thị trường toàn cầu.

Đoàn Việt Nam tại Kỳ họp. (Ảnh: NGUYỄN VIẾT CƯỜNG)

Ủy ban Di sản Thế giới thông qua báo cáo về tình trạng bảo tồn của Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội

Theo thông tin từ Cục Di sản văn hóa, vào lúc 11 giờ 47 phút (giờ địa phương) ngày 23/7 (9 giờ 47 phút, giờ Việt Nam), tại Kỳ họp lần thứ 48 tổ chức ở Busan, Hàn Quốc, Ủy ban Di sản Thế giới đã thông qua Báo cáo về tình trạng bảo tồn của Di sản thế giới Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cung cấp)

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến góp ý dự thảo sửa đổi Nghị định về quản lý Internet và thông tin trên mạng

Chiều 23/7, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 147/2024/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phan Tâm chủ trì hội thảo.

Lần đầu tiên, Huế chính thức giới thiệu Lễ hội Di sản và Âm nhạc quốc tế Huế-Huế Wonderverse Music Fest 2026 với định hướng phát triển thành thương hiệu lễ hội thường niên mang tầm quốc tế.

Ra mắt Huế Wonderverse Music Fest 2026: Kiến tạo thương hiệu lễ hội mới từ sức sống di sản

Lần đầu tiên tại Huế, Lễ hội Di sản và Âm nhạc quốc tế Huế-Huế Wonderverse Music Fest 2026 sẽ được tổ chức, mở ra một sự kiện văn hóa quy mô lớn, đánh dấu bước chuyển trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa của Cố đô, góp phần thúc đẩy du lịch, kinh tế sáng tạo và nâng tầm vị thế Thành phố Festival của Việt Nam.

Chương trình mong muốn kết nối giới trẻ với văn hóa truyền thống. (Ảnh: TFS)

Số hóa và câu chuyện kết nối giới trẻ với di sản

Ngày 23/7, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy, Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Phát thanh và Truyền hình Thành phố (HTV-Hãng phim TFS) tổ chức chương trình “Lý luận phê bình văn học nghệ thuật” năm 2026 với chuyên đề: “Số hóa dữ liệu văn hóa, nghệ thuật, du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh”.

Các đại biểu và nghệ sĩ tại chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa”. (Ảnh: SƠN HẢI)

Âm vang bản hùng ca “Một thời hoa lửa”

Tối 22/7, tại Hà Nội, hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), Hội Nhà báo Việt Nam chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức chương trình nghệ thuật “Một thời hoa lửa”.

Việc bóc tách du lịch văn hóa với du lịch nói chung còn gặp khó khăn nên cần có phương pháp để thực hiện. (Trong ảnh: Khách du lịch đến với Di tích Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội.)

Tìm “thước đo” cho công nghiệp văn hóa

Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng ở Việt Nam hiện nay, những câu hỏi như: Công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu % GDP; thu hút bao nhiêu doanh nghiệp, lao động; lĩnh vực nào đang đem lại lợi ích kinh tế cao; giá trị xuất, nhập khẩu thế nào?... đều chưa có câu trả lời chính xác...

Đình làng cổ Thạch Tân là nơi khởi nguồn của địa đạo Kỳ Anh nhìn từ trên cao.

Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội văn hóa-du lịch “Địa đạo Kỳ Anh-Bãi sậy sông Đầm”

Từ ngày 24-30/7, tại khu vực địa đạo Kỳ Anh và bãi sậy sông Đầm, Ủy ban nhân dân phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng tổ chức Lễ hội văn hóa-du lịch “Địa đạo Kỳ Anh-Bãi sậy sông Đầm” năm 2026, chủ đề “Địa đạo Kỳ Anh-Bản hùng ca trong lòng đất” với nhiều hoạt động đặc sắc.