Trong những năm qua, khối giáo dục đại học là lực lượng nghiên cứu lớn nhất của đất nước, với khoảng 95.000 giảng viên, gần 64.000 nghiên cứu sinh và hơn 83% công bố quốc tế của cả nước.
Năng lực nghiên cứu của các trường đại học đang có những bước tiến đáng kể. Năm 2025, khối đại học có hơn 21.000 công bố trên các cơ sở dữ liệu Scopus và Web of Science (hai cơ sở dữ liệu trích dẫn khoa học đa ngành có uy tín hàng đầu và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới), tăng khoảng 16,1%. Trong chín tháng năm 2026, các trường có 513 đơn đăng ký sáng chế, vượt tổng số của cả năm 2025.
Vẫn khó liên kết “3 nhà”
Tuy nhiên, số lượng công bố và sáng chế tăng chưa đồng nghĩa với việc kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi. Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Quang Hưng chỉ ra rằng, năng lực nghiên cứu cần được hình thành thông qua quá trình đào tạo gắn với những vấn đề thực tế của doanh nghiệp.
Dẫn con số khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Thứ trưởng Phạm Quang Hưng cho biết, trong hơn 735.000 doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoảng 10.296 doanh nghiệp hợp tác với trường đại học.
“Khu vực doanh nghiệp, với khoảng 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) chuyên trách; tổng chi cho R&D của xã hội mới khoảng 0,4-0,5% GDP. Các địa phương đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số; nhu cầu về nhân lực trình độ cao và giải pháp công nghệ tại chỗ là rất lớn, nhưng cơ chế để địa phương đặt hàng, chi trả cho nhà trường còn chưa rõ”, Thứ trưởng GĐ&ĐT đánh giá.
Những con số này cũng tương đồng với những đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) về nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp với các viện, trường trong nước. Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán, trong khi chỉ có 750 nhu cầu tìm mua.
Theo Bộ KH&CN, những hạn chế trên không chỉ xuất phát từ nguồn vốn mà còn từ cách thức tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp thường tham gia muộn. Nhiều kết quả nghiên cứu còn thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận... trước khi đưa ra thị trường.
Các bên còn gặp khó khăn trong định giá công nghệ, xác định quyền khai thác, phân chia lợi ích và trách nhiệm khi thử nghiệm. Hiệu quả ứng dụng sau nghiệm thu chưa được theo dõi thường xuyên.
Cơ chế đặt hàng hiệu quả hơn
Tại Viện Dầu khí Việt Nam, từ lâu nay hiệu quả hoạt động liên kết với doanh nghiệp là yếu tố then chốt để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Theo TS Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng: “Sự phối hợp giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần được triển khai từ khâu xác định nhu cầu, tổ chức nghiên cứu đến thử nghiệm, ứng dụng và mở rộng quy mô”.
Viện đã phối hợp phát triển hệ hóa phẩm tăng cường hệ số thu hồi dầu, phù hợp với điều kiện nhiệt độ và độ sâu cao tại mỏ Bạch Hổ. Sau sáu tháng triển khai, khoảng 100 tấn hóa phẩm được đưa vào sử dụng tại giàn 16 mỏ Bạch Hổ.
Theo Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân, việc kết nối ba nhà phải bắt đầu từ sự chủ động của cơ quan quản lý. “Các bộ, ngành cần đề xuất mô hình hợp tác, xác định rõ trách nhiệm của từng bên. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm khắc phục tình trạng hợp tác phụ thuộc vào sự chủ động riêng lẻ”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nói.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng cho rằng, hoạt động nghiên cứu cần chuyển từ cách làm chủ yếu dựa trên đề xuất của nhà khoa học sang nghiên cứu theo nhu cầu đặt hàng. Điều này đòi hỏi mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ bài toán công nghệ, sản phẩm đầu ra, tiêu chí nghiệm thu và đơn vị có khả năng tiếp nhận, ứng dụng.
Nhà nước cũng cần chủ động rà soát những điểm nghẽn công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Từ đó tập hợp doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu có năng lực để cùng xây dựng phương án giải quyết.
Chẳng hạn, với ngành thủy sản, cần xác định rõ những khâu còn hạn chế về công nghệ, từ con giống, thức ăn, vaccine phòng bệnh đến chế biến và tận dụng phụ phẩm. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý phối hợp với doanh nghiệp và các trường đại học xây dựng những nhiệm vụ nghiên cứu có mục tiêu cụ thể, gắn với nhu cầu sản xuất và khả năng ứng dụng.
Ở góc nhìn của doanh nghiệp, ông Nguyễn Vũ Hà, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel cho biết, doanh nghiệp đang phối hợp với các học viện, trường đại học và tổ chức nghiên cứu trong đào tạo nhân lực. Viettel xác định tham gia 9 trong 10 nhóm công nghệ chiến lược và 18 trong 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Một số sản phẩm như thiết bị mạng 5G, chip cao tần cho radar, chip cho trạm 5G và camera trí tuệ nhân tạo đã được đưa vào ứng dụng thực tế. Từ kinh nghiệm phát triển sản phẩm, đại diện Viettel đề xuất doanh nghiệp cần được giao vai trò dẫn dắt những chương trình công nghệ chiến lược có thế mạnh; viện, trường tập trung nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ lõi và phối hợp phát triển nhân lực.
Thứ trưởng GD&ĐT Phạm Quang Hưng đề xuất, cần làm rõ quy định về quyền sở hữu, quyền khai thác và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu; hoàn thiện cơ chế định giá tài sản trí tuệ và hướng dẫn xử lý rủi ro khách quan trong quá trình đổi mới sáng tạo. Khi ranh giới giữa rủi ro nghiên cứu được chấp nhận và vi phạm trong quản lý tài sản công được xác định rõ, các cơ sở nghiên cứu mới có đủ căn cứ để chủ động hợp tác và đưa ra quyết định.
Một yêu cầu khác là chuyên nghiệp hóa các tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ. Những đơn vị này cần có năng lực đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ, kết nối cung - cầu, hỗ trợ đàm phán hợp đồng, định giá tài sản trí tuệ và tìm kiếm khách hàng. Đồng thời, các trường đại học cần điều chỉnh tiêu chí đánh giá nhà khoa học theo hướng ghi nhận tương xứng sáng chế, hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm, bên cạnh công bố khoa học.
Theo Bộ KH&CN, thúc đẩy kết nối viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là yêu cầu chiến lược để chuyển hóa tri thức thành năng lực sản xuất, nâng cao khả năng làm chủ công nghệ và tạo động lực tăng trưởng mới. Khi đơn đặt hàng có địa chỉ, nguồn lực gắn với đầu ra, quyền lợi và trách nhiệm được xác định minh bạch, mô hình ba nhà mới có thể vận hành thực chất, góp phần tăng cường hiệu quả phát triển và ứng dụng KH&CN.