Khép lại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025: Lựa chọn con đường phù hợp

Kỳ thi THPT năm 2025 đã khép lại với hàng nghìn điểm 10 và tỷ lệ tốt nghiệp hơn 99%. Nhưng sau phổ điểm rực rỡ ấy, không phải học sinh nào cũng mãn nguyện. Khi điểm cộng không còn, điểm cao chỉ dành cho số ít, thì số đông học sinh cần lựa chọn cho mình một con đường riêng phù hợp cho tương lai.

Học sinh tham gia ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức tại Hà Nội năm 2025.
Học sinh tham gia ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức tại Hà Nội năm 2025.

Phổ điểm năm nay rực rỡ những điểm 10, đó là minh chứng cho những nỗ lực cá nhân và sự đổi mới trong giáo dục. Nhưng, ngay dưới những đỉnh cao ấy là một độ vênh lớn hơn mọi năm và những khoảng tối lặng lẽ hơn.

Mặt trái của một phổ điểm đẹp

Toán là một trong ba môn bắt buộc nhưng có điểm trung bình chỉ đạt 4,78, thấp nhất trong số các môn thi. Gần 50% thí sinh có điểm dưới trung bình, 777 bài thi bị điểm liệt, gấp 10 lần so với năm 2024 (chỉ 76 bài). Tiếng Anh cũng không khá hơn với 46,68% thí sinh dưới điểm 5, dù đây là môn được kỳ vọng chuẩn hóa theo chuẩn B1. Đề thi bị nhiều giáo viên nhận xét là quá khó, chưa tương xứng với mặt bằng dạy học ở nhiều địa phương.

Trong khi đó, số bài thi đạt điểm 10 ở nhiều môn tăng vọt: Vật lý tăng từ 55 (năm 2024) lên 3.929, Địa lý tăng gấp đôi, và ngay cả Toán được đánh giá là rất khó cũng có đến 513 điểm 10 tuyệt đối. Một phổ điểm mà cực đại và cực tiểu cùng tăng, vừa là minh chứng cho độ phân hóa rõ nét, vừa hé lộ khoảng cách đang giãn rộng giữa những học sinh được luyện thi bài bản, có điều kiện tiếp cận tài liệu, phương pháp tốt với những học sinh vùng sâu, vùng xa học trong môi trường thiếu thốn, không được hỗ trợ đủ về định hướng hay kỹ năng.

Tiến sĩ Sái Công Hồng (Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) nhận định: “Đề thi năm nay phân hóa tốt, phù hợp với mục tiêu tuyển sinh đại học. Nhưng với học sinh có điểm trung bình trở xuống, nếu thiếu thông tin định hướng, các em rất dễ hoang mang. Khi điểm cộng không còn thì động lực và cơ hội cũng sẽ giảm theo”. Năm 2025 là năm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo bỏ cộng điểm ưu tiên nghề, tin học và ngoại ngữ - chính sách từng mở thêm cánh cửa cho nhiều thí sinh có lực học trung bình.

Khi không còn điểm cộng, mọi kỳ vọng dồn hết vào điểm thi và điểm học bạ, là thử thách không nhỏ đối với học sinh vùng khó khăn. Nhưng, dù đạt điểm cao hay thấp, mỗi học sinh giờ đây đều đang đứng trước câu hỏi: Con đường nào phù hợp với mình? Trong khi phần lớn dư luận dồn sự chú ý vào các thủ khoa, á khoa thì số đông học sinh có điểm thi dưới 7 mỗi môn lại ít được nhắc đến. Nhưng chính các em mới là diện phổ biến nhất của hệ thống giáo dục, là lực lượng lao động tương lai nếu được định hướng đúng. Không cần được tôn vinh nhưng các em cần được lắng nghe, được dẫn dắt và được trao quyền để chọn con đường của chính mình.

Học nghề không còn là lựa chọn "hạng hai"

Kỳ thi kết thúc là lúc nhiều thí sinh cảm thấy chênh vênh với kết quả không như kỳ vọng. Nhưng trước mắt các em không phải ngõ cụt. Ngược lại, chính một phổ điểm phân hóa sâu với điểm liệt Toán tăng mạnh, gần 50% thí sinh có điểm tiếng Anh dưới trung bình đang đặt ra một thực tế rõ ràng là đã đến lúc, những con đường ngoài đại học cần được nhìn nhận công bằng hơn. Giáo dục nghề nghiệp đang có cơ hội bứt phá.

Từ năm 2025, hệ thống này chính thức chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, một bước đi quan trọng để đồng bộ hóa công tác tuyển sinh và phân luồng sau THPT. Các trường cao đẳng bắt đầu tuyển sinh cùng đợt với đại học, sử dụng chung nền tảng tuyển sinh, tăng tính minh bạch và dễ tiếp cận hơn với thí sinh. Song song với đó, dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng tăng quyền tự chủ, cắt giảm hơn 40% thủ tục hành chính, mở rộng hợp tác quốc tế và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp. “Nếu được trao quyền đúng lúc, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ, bắt kịp thị trường lao động số và hội nhập quốc tế”, ông Phạm Vũ Quốc Bình, Phó Cục trưởng Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên nhận định.

Nhìn từ thực tiễn, những tín hiệu tích cực trong đào tạo nghề ở Việt Nam cũng dần hiện rõ. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều trường nghề đi đầu trong mô hình “kỹ sư thực hành” theo chuẩn quốc tế, mở tuyển sinh sớm, hỗ trợ học phí và cam kết đầu ra (việc làm). Các ngành kỹ thuật như cơ điện tử, hàn, khuôn mẫu… ngày càng thu hút nhờ triển vọng nghề nghiệp vững chắc. Tại Quảng Nam, mô hình kết hợp đào tạo nghề và tiếng Nhật từ lớp 10 đã giúp học sinh sẵn sàng đi làm tại Nhật Bản với mức lương khởi điểm từ 1.000-1.500 USD/tháng. Ở Thái Bình, chính sách hỗ trợ học phí, ký túc xá và bảo đảm đầu ra giúp tỷ lệ học sinh chọn học nghề sau THPT tăng rõ rệt.

Tư duy mới, cơ hội mới

“Xã hội lâu nay vẫn gắn mác “học nghề vì trượt đại học”, khiến nhiều em phù hợp nhưng vẫn e dè với lựa chọn này. Chúng tôi rất cần báo chí, nhà trường và phụ huynh đồng hành để thay đổi tư duy”, ông Trương Anh Dũng, Cục trưởng Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên chia sẻ.

Cũng từ thực tế này, nhiều chuyên gia khẳng định học nghề không phải phương án dự phòng. Đó là một lựa chọn thực chất và đáng giá, nếu phù hợp với người học. Thời gian đào tạo ngắn, nội dung gắn sát thực tế, liên kết chặt với doanh nghiệp. Không ít ngành nghề như công nghệ ô-tô, logistics, kỹ thuật chế biến thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, công nghệ thông tin… có thể mang lại mức thu nhập cao hơn cả nhiều ngành đại học, miễn là được đào tạo bài bản.

Tiến sĩ Lê Trường Tùng (Trường đại học FPT) nhận xét: “Chúng ta đã nói quá nhiều về người chiến thắng. Nhưng chính những học sinh điểm trung bình mới là đa số và các em cần được cung cấp thông tin rõ ràng, được lắng nghe, được gợi mở… chứ không phải lặng lẽ chọn trong bối cảnh bị buộc phải chọn”. Tương lai không chỉ bắt đầu từ cổng trường đại học. Nó có thể được khởi động từ một lớp học nghề nhỏ, một xưởng thực hành, một trung tâm đào tạo kỹ năng, miễn là học sinh biết mình muốn gì và được người lớn trao cơ hội để bắt đầu.

Không ai muốn điểm thấp, nhưng cũng không nhất thiết phải là thủ khoa mới đi xa được. Điều quan trọng là chọn đúng hướng, một con đường phù hợp với năng lực, điều kiện và ước mơ. Và ngay khi biết điểm thi, chính là lúc thí sinh và gia đình cần sự tỉnh táo nhất để cân nhắc và lựa chọn, không vì áp lực điểm số mà chọn sai đường.

Có thể bạn quan tâm

[Ảnh] Học sinh vui lễ hội xuân, tìm hiểu nét đẹp truyền thống

[Ảnh] Học sinh vui lễ hội xuân, tìm hiểu nét đẹp truyền thống

Dịp này, nhiều nhà trường tổ chức các hoạt động vui xuân đón Tết, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho thầy trò ở trường học. Đây còn là dịp để học sinh được tìm hiểu, trải nghiệm và gìn giữ các phong tục tốt đẹp của dân tộc cũng như phát huy khả năng sáng tạo qua các hoạt động tập thể.

Các đại biểu tham quan 8 gian trưng bày và trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống.

Hưng Yên đưa nghệ thuật truyền thống vào các cơ sở giáo dục cấp tiểu học

Sáng 27/1, tại Trường tiểu học Lý Tự Trọng (phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên), hơn 800 cán bộ quản lý và giáo viên thuộc 461 trường phổ thông có cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã tham dự Chuyên đề “Đưa nghệ thuật truyền thống vào các cơ sở giáo dục phổ thông có cấp tiểu học năm học 2025-2026”.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

Giờ thực hành của học sinh Trường trung học cơ sở Chu Văn An, thành phố Hà Nội.

Minh bạch hoạt động dạy thêm

Cơ quan quản lý đang sửa đổi, bổ sung Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm nhằm đưa vấn đề dạy thêm, học thêm vào “nền nếp”. Quy định mới dự kiến sẽ khắc phục tình trạng dạy thêm trá hình.

Giáo dục đại học với vai trò kiến tạo năng lực phát triển dài hạn, tạo dựng năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của quốc gia

Giáo dục đại học với vai trò kiến tạo năng lực phát triển dài hạn, tạo dựng năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của quốc gia

Không chỉ dừng lại ở quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng thực chất của giáo dục-đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học và đào tạo nhân lực khoa học-công nghệ.