Hướng dẫn về tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng từ 1/7

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 06/2023/TT- BLĐTBXH hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng từ ngày 1/7/2023.
Người dân tìm hiểu thông tin về chi trả lương hưu tại Hà Nội. (Ảnh: VNPost)
Người dân tìm hiểu thông tin về chi trả lương hưu tại Hà Nội. (Ảnh: VNPost)

Đối tượng áp dụng với năm nhóm đối tượng quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm h và điểm i khoản 1 Điều 1 Nghị định số 42/2023/NĐ-CP hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 1/7/2023.

Cùng với đó là các đối tượng quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 1 Nghị định số 42/2023/NĐ-CP nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 1/1/1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 1/1/1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng và Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động) sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại Thông tư này mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng dưới 3 triệu đồng/tháng.

Mức điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng cụ thể như sau:

Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng dưới 2,7 triệu đồng/tháng: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh =Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh theo quy định khoản 1 Điều 2 Thông tư này + 300 nghìn đồng/tháng.

Thứ nhất, từ ngày 1/7/2023, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này được điều chỉnh như sau:

Tăng thêm 12,5% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6 năm 2023 đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này đã được điều chỉnh theo Nghị định số 108/2021/NĐ-CP ngày 7/12/2021 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Cụ thể: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7 năm 2023 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp tháng 6 năm 2023 X 1,125.

Tăng thêm 20,8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6 năm 2023 đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này chưa được điều chỉnh theo Nghị định số 108/2021/NĐ-CP ngày 7/12/2021 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Cụ thể: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7 năm 2023 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp tháng 6 năm 2023 X 1,208.

Thứ hai, từ ngày 1/7/2023, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư này sau khi được điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này được điều chỉnh như sau:

Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng dưới 2,7 triệu đồng/tháng: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh =Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh theo quy định khoản 1 Điều 2 Thông tư này + 300 nghìn đồng/tháng.

Đối với người có mức lương hưu, trợ bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ 2,7 triệu đồng/tháng đến dưới 3 triệu đồng/tháng: Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh = 3 triệu đồng/tháng.

Mức tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng áp dụng từ ngày 1/7/2023 là đợt điều chỉnh tăng mới nhất kể từ ngày 1/1/2022 theo quy định tại Nghị định 108/2021/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan chức năng có liên quan tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy định về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng tại Thông tư này.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm triển khai thực hiện việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng quy định tại Nghị định số 42/2023/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này. Cơ quan này cũng lập báo cáo theo mẫu kèm Thông tư này gửi Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính trước ngày 31/12/2023.

Kể từ năm 1995 đến nay, Nhà nước đã có 23 lần điều chỉnh lương hưu.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/8/2023. Các quy định tại Thông tư này được thực hiện kể từ ngày 1/7/2023.

Các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 2, Điều 4 và khoản 2 Điều 5 Thông tư số 37/2021/TT-BLĐTBXH ngày 31/12/2021 của Bộ trưởng Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng, thời điểm hưởng lương hưu đối với trường hợp không còn hồ sơ gốc hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.

Mức tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng áp dụng từ ngày 1/7/2023 là đợt điều chỉnh tăng mới nhất kể từ ngày 1/1/2022 theo quy định tại Nghị định 108/2021/NĐ-CP.

Như vậy, kể từ năm 1995 đến nay, Nhà nước đã có 23 lần điều chỉnh lương hưu. Việc tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng mới lần này sẽ giúp gần 3,4 triệu người trên toàn quốc được hưởng lợi từ chính sách này.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.