Sau vụ việc can thiệp, làm sai lệch dữ liệu tại 168 trạm quan trắc môi trường của nhiều doanh nghiệp, vấn đề bảo đảm tính chính xác, trung thực của dữ liệu môi trường đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Để bịt kín những kẽ hở trong quản lý, cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống dữ liệu theo hướng tập trung, số hóa, đồng thời thiết lập cơ chế để người dân tham gia giám sát hiệu quả.
Lỗ hổng trong vận hành
Từ khi triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, mạng lưới trạm quan trắc môi trường quốc gia đã từng bước được xây dựng. Đến năm 2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 7/3/2024 về việc quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu xây dựng hệ thống đồng bộ, hiện đại, có khả năng chia sẻ dữ liệu, phục vụ cảnh báo, dự báo và quản lý môi trường trên phạm vi cả nước. Trong nhiều năm, dữ liệu quan trắc đã góp phần cung cấp thông tin phục vụ xây dựng báo cáo môi trường, đánh giá chất lượng môi trường, cảnh báo ô nhiễm và hỗ trợ cơ quan quản lý đề xuất giải pháp điều hành.
Các yêu cầu kỹ thuật đối với hệ thống quan trắc tự động, liên tục cũng được quy định chặt chẽ, từ lựa chọn vị trí lắp đặt, xác định thông số quan trắc bắt buộc, tổ chức thu nhận mẫu, đo đạc, truyền dữ liệu đến quản lý, vận hành, kiểm định, hiệu chuẩn và kiểm soát chất lượng. Ở góc độ vận hành, mỗi trạm quan trắc phải đáp ứng yêu cầu về thông số theo dõi, vị trí quan trắc, dung dịch chuẩn, thiết bị phụ trợ và chế độ quản lý, vận hành hệ thống theo đúng Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (trước đây).
Theo quy định pháp luật, các doanh nghiệp có lượng phát thải lớn phải lắp đặt trạm quan trắc tự động, liên tục. Dữ liệu quan trắc phải kết nối, truyền về cơ quan quản lý nhà nước để kiểm soát, giám sát ô nhiễm và xử lý vi phạm về môi trường. Đối với nước thải, hệ thống quan trắc phải theo dõi liên tục các thông số cơ bản như pH, COD, TSS, lưu lượng và các thông số đặc trưng theo từng ngành, nghề. Đối với khí thải, các cơ sở có nguồn thải lớn, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao cũng phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục để giám sát các chỉ tiêu như lưu lượng, nhiệt độ, áp suất, bụi và các thông số đặc trưng khác của dòng thải.
Mặc dù vậy, thực tế vận hành hệ thống này vẫn tồn tại “lỗ hổng”, việc sai lệch diễn ra ở nhiều khâu của hệ thống, từ việc hút mẫu, buồng chứa mẫu, vị trí đặt thiết bị đo, thiết bị phân tích cho đến bộ ghi dữ liệu tự động và truyền nhận dữ liệu. Có trường hợp đấu nối thêm đường cấp nước hoặc khí nén để pha loãng mẫu, có trường hợp thay đổi vị trí lấy mẫu, thay đổi dải đo, khoảng đo trên cảm biến, thậm chí can thiệp bằng phần mềm, thiết lập công thức tính toán để “hạ” kết quả để đạt ngưỡng quy chuẩn.
Theo Nghị định số 153/2024/NĐ-CP thì kết quả quan trắc không chỉ phục vụ giám sát phát thải, mà còn là căn cứ trực tiếp để xác định nghĩa vụ tài chính về môi trường của doanh nghiệp. Vì vậy, một khi dữ liệu bị can thiệp làm sai lệch, việc thu phí môi trường sẽ bị ảnh hưởng, làm mất công bằng giữa các cơ sở chấp hành nghiêm với các cơ sở gian lận.
Tăng cường quản lý và giám sát xã hội
Sau vụ việc nghiêm trọng vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu các địa phương rà soát, đánh giá lại toàn bộ quy trình quản lý dữ liệu quan trắc, từ khâu thu nhận, truyền dẫn đến lưu trữ và khai thác dữ liệu, nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục các điểm có nguy cơ bị can thiệp hoặc làm sai lệch số liệu. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát dữ liệu, nhằm nâng cao khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và bảo đảm tính chính xác, tin cậy của dữ liệu quan trắc. Tăng cường thêm các lớp kiểm soát quản lý truy cập và cấu hình hệ thống, đặc biệt đối với bộ ghi dữ liệu tự động và phần mềm truyền dữ liệu...
Nhiều chuyên gia cho rằng, cần thiết phải rà soát cơ chế quản lý dữ liệu quan trắc theo hướng coi đây là dữ liệu gốc, dữ liệu công vụ có giá trị pháp lý cao, phải được bảo vệ không chỉ bằng công nghệ, quy trình mà quan trọng nhất là trách nhiệm pháp lý.
Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam cho rằng, khi dữ liệu quan trắc vốn được xem như “hệ thần kinh” của quản lý môi trường bị bóp méo, toàn bộ quá trình ra quyết định sẽ bị dẫn dắt sai lệch. Một hệ thống dựa trên thông tin sai không thể tạo ra chính sách đúng. Người dân không có thông tin đúng để tự bảo vệ. Chính quyền địa phương không chịu áp lực xử lý. Hệ quả là hệ sinh thái tiếp tục bị bào mòn một cách âm thầm. Vì vậy, vụ việc làm sai lệch dữ liệu quan trắc vừa qua cần được nhìn nhận như một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc, đó là muốn bảo vệ môi trường, trước hết phải bảo vệ sự trung thực của dữ liệu. Để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào công nghệ hay chế tài, mà phải bắt đầu từ chính con người và cách thức vận hành của hệ thống quản lý.
Tiến sĩ Nguyễn Lan Anh, chuyên gia về môi trường đề xuất cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý theo hướng tăng cường các quy định về bảo mật dữ liệu quan trắc, quy định bắt buộc lưu trữ lịch sử truy cập, lịch sử thay đổi cấu hình, mã hóa dữ liệu, xác định trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ sở và người quản lý nhà nước khi để xảy ra can thiệp dữ liệu. Nâng cấp cơ chế quản lý, giám sát hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục từ mô hình quản lý kỹ thuật đơn thuần sang mô hình quản lý hạ tầng dữ liệu số; đồng thời ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số để giám sát hệ thống, xây dựng hạ tầng dữ liệu quan trắc tập trung cấp quốc gia…
Từ thực tiễn nghiên cứu và triển khai công nghệ môi trường, Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Văn Tuyên, Chủ tịch Hội đồng Khoa học ngành Môi trường-Năng lượng ( Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chỉ ra hai vấn đề lớn hiện nay. Trước hết, dữ liệu môi trường vẫn còn phân tán, rời rạc giữa các doanh nghiệp, khu công nghiệp và địa phương, chưa được chuẩn hóa và tích hợp. Điều này khiến cơ quan quản lý khó theo dõi xu thế biến động môi trường theo thời gian và không gian, đồng thời hạn chế khả năng đưa ra quyết định chính xác. Theo ông, cần sớm xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường tập trung, số hóa và kết nối các nguồn đo, coi đây là nền tảng cho quản lý hiện đại.
Bên cạnh đó, ông Tuyên nhấn mạnh vai trò đặc biệt của người dân trong giám sát môi trường. Trong nhiều trường hợp, người dân không cần đến thiết bị hiện đại mà có thể nhận biết ô nhiễm bằng cảm quan trực tiếp, thậm chí còn phát hiện sớm hơn lực lượng chức năng. Tuy nhiên, một bất cập hiện nay là việc tiếp nhận phản ánh của người dân còn chậm, xử lý chưa nghiêm minh, khiến người dân thiếu niềm tin vào cơ quan chức năng.
Vì thế, cần thiết lập cơ chế để tiếng nói của người dân được tiếp nhận nhanh hơn, thuận tiện hơn và có phản hồi rõ ràng. Một hướng đi là cho phép người dân cung cấp bằng chứng vi phạm như hình ảnh, video, tương tự mô hình đang áp dụng trong lĩnh vực giao thông hiện nay. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích và bảo vệ người cung cấp thông tin, bởi việc phát hiện vi phạm môi trường không hề đơn giản, khi nhiều cơ sở chỉ xả thải vào ban đêm, khi trời mưa hoặc trong điều kiện khó kiểm soát. Khi có cơ chế phù hợp, người dân sẽ trở thành “tai mắt” hiệu quả, góp phần phát hiện sớm và ngăn chặn vi phạm về môi trường.