Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết, trong 10 tháng năm 2026, phần lớn các chỉ tiêu của ngành nông nghiệp đều đạt yêu cầu. Tăng trưởng quý IV dự kiến đạt khoảng 4,3-4,4%, cả năm ước đạt mục tiêu 4%. Các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu. Mặc dù chịu tác động từ biến động giá vật tư đầu vào nhập khẩu, như phân bón và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu như gạo, thịt vẫn được giữ ổn định.
Điều kiện thời tiết, thiên tai có phần thuận lợi hơn, cùng với sự chủ động của các bộ, ngành và địa phương trong phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu đã góp phần duy trì hoạt động sản xuất.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 10 tháng năm 2026, nguồn cung phần lớn mặt hàng nông, lâm, thủy sản thiết yếu cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 4,74 triệu tấn, tăng 4,4%; thịt gia cầm đạt 2,26 triệu tấn, tăng 5,5%; thủy sản đạt 8,81 triệu tấn, tăng 3,8%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, bằng 84,7% mục tiêu kế hoạch năm 2026. Kim ngạch nhập khẩu đạt 44,287 tỷ USD, tăng 9,2%. Toàn ngành xuất siêu khoảng 18,6 tỷ USD, tăng 4,7%. Trong đó, lâm sản đóng góp mức xuất siêu lớn nhất, đạt 13,01 tỷ USD, tăng 5,2%; thủy sản xuất siêu 7,73 tỷ USD, tăng 17%. Ngược lại, xuất siêu nông sản đạt 4,52 tỷ USD, giảm 30,8%; nhập siêu sản phẩm chăn nuôi lên 3,81 tỷ USD, tăng 21,5%.
Bên cạnh kết quả đạt được, sản xuất và tiêu thụ nông sản vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Diện tích lúa thu đông đạt khoảng 615.000ha, giảm 12%, có thể ảnh hưởng đến nguồn lúa hàng hóa cuối năm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Một số mặt hàng như lợn hơi, gia cầm và đường chịu sức ép do nguồn cung dồi dào trong khi sức mua phục hồi chưa đồng đều. Chi phí phân bón, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu, vận tải, bảo quản và lãi vay cao tiếp tục thu hẹp lợi nhuận của người sản xuất và doanh nghiệp.
Thị trường xuất khẩu còn tập trung vào một số thị trường lớn, tiềm ẩn rủi ro khi chính sách nhập khẩu và sức mua thay đổi. Giá xuất khẩu nhiều mặt hàng giảm hoặc tăng không tương xứng với chi phí đầu vào. Trong 10 tháng, lượng cà-phê xuất khẩu tăng 18,1% nhưng giá trị giảm 5,4%, giá bình quân giảm 19,9%. Xuất khẩu gạo giảm 5,7% về lượng và 10,8% về giá trị; cao-su giảm 15,5% về lượng, kim ngạch giảm 1,1%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả tiêu thụ. Giá xuất khẩu phục hồi ở một số mặt hàng nhưng chưa chuyển hóa đồng đều thành giá thu mua tại vùng nguyên liệu. Trong khi đó, nông dân và các hợp tác xã nhỏ còn thiếu vốn lưu động, kho chứa, kho sấy và khả năng chờ thời điểm bán có lợi, nên thường phải bán nhanh khi vào chính vụ.
Một điểm nghẽn khác là liên kết giữa sản xuất, thu mua, chế biến và phân phối còn yếu; sản xuất phân tán, hợp đồng bao tiêu chưa bền vững, thông tin đơn hàng và kế hoạch thu hoạch chưa được chia sẻ kịp thời. Công suất vận hành thực tế của các cơ sở chế biến chỉ đạt khoảng 60-80% công suất thiết kế; hệ thống kho lạnh, trung tâm logistics dùng chung và công nghệ chế biến sâu còn thiếu.
Để hoàn thành mục tiêu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tăng cường theo dõi thị trường, giá cả theo từng ngành hàng, vùng sản xuất và chuỗi tiêu thụ; thường xuyên cập nhật giá tại vùng sản xuất, giá xuất khẩu, tồn kho, đơn hàng, chi phí đầu vào, vận tải và thông quan. Trước mỗi vụ thu hoạch lớn, cần xây dựng dự báo cung cầu và phương án tiêu thụ theo các kịch bản, cảnh báo sớm nguy cơ dư cung, giảm giá hoặc ùn tắc, tránh tình trạng chỉ xử lý khi nông sản đã rớt giá.
Cùng với đó, tổ chức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường và hợp đồng tiêu thụ, hạn chế phát triển tự phát. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hướng dẫn cơ cấu mùa vụ, quy mô và tiêu chuẩn sản xuất căn cứ tín hiệu thị trường, đơn hàng và năng lực chế biến; củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua, chế biến, phân phối.
Đối với chăn nuôi, cần hướng dẫn tái đàn theo nhu cầu thị trường, kết nối với hệ thống bán lẻ, bếp ăn và cơ sở chế biến. Với lúa gạo, tăng cường thu mua theo hợp đồng, phát triển gạo chất lượng cao; đối với sầu riêng và rau quả, tổ chức rải vụ, kiểm soát chất lượng ngay từ vùng trồng, tránh dồn hàng vào cùng thời điểm.
Bộ cũng đề xuất đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, xử lý vướng mắc theo từng mặt hàng, giảm phụ thuộc vào một thị trường đối với sầu riêng, cao-su, sắn và gỗ; mở rộng thị trường tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh.
Đối với thủy sản, cần chủ động xử lý các vấn đề phòng vệ thương mại, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và thực hiện các nhiệm vụ chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Các ngành hàng cà-phê, gỗ, cao-su cần hoàn thiện dữ liệu nguồn gốc, hồ sơ đáp ứng quy định của Liên minh châu Âu về chống mất rừng (EUDR).
Tại cuộc họp, đại diện Bộ Công thương cho biết, Bộ xác định phát triển thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các hiệp hội và người sản xuất thúc đẩy tiêu thụ nông sản là nhiệm vụ trọng tâm.
Thời gian qua, Bộ đã tổ chức các hoạt động kết nối giao thương, triển lãm, hội chợ, ưu tiên ngành hàng nông nghiệp; hỗ trợ hiệp hội, doanh nghiệp tham gia hội chợ chuyên ngành đồ gỗ tại các thị trường lớn, hội chợ nhập khẩu tại Trung Quốc và các hội chợ ở Đức, Hà Lan.
Thời gian tới, Bộ tiếp tục đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng sang các thị trường tiềm năng, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do.
Kết luận cuộc họp, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và tạo nền tảng phát triển bền vững, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp chặt chẽ Bộ Công thương theo dõi sát tình hình sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực trong những tháng cuối năm; chủ động cân đối cung cầu, dự báo chính xác sản lượng mùa vụ và hướng dẫn sản xuất theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Khẩn trương quy hoạch vùng trồng, vùng nuôi, chấm dứt tình trạng phát triển tự phát theo phong trào; đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói; quản lý chặt chẽ truy xuất nguồn gốc, ngăn chặn gian lận mã số, gian lận xuất xứ và bảo đảm an toàn thực phẩm.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp Bộ Công thương nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch nông, thủy sản nhằm quảng bá, kết nối giao thương và tăng tính minh bạch của thị trường; về lâu dài, cần đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, giải quyết căn cơ bài toán năng suất, chất lượng và làm chủ nguồn giống, nhất là giống lợn, tôm, cá; các đề tài nghiên cứu khoa học phải gắn với thực tiễn sản xuất, tạo ra sản phẩm thương mại cụ thể, không dừng lại ở việc giải ngân kinh phí.
Đối với Bộ Công thương, Phó Thủ tướng đề nghị phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuẩn bị đầy đủ nguồn cung hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán; tổ chức tốt các chương trình bình ổn thị trường, kết nối tiêu thụ; kiên quyết xử lý gian lận thương mại, hàng lậu, hàng giả; theo dõi sát chính sách thương mại, rào cản thuế quan và các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước nhập khẩu; tích cực kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các hệ thống phân phối lớn ở nước ngoài, thúc đẩy hiện thực hóa các cam kết, thỏa thuận hợp tác thương mại đã ký kết; rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thủ tục hải quan; đẩy mạnh số hóa, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm tra, giám sát hàng nông sản tạm nhập tái xuất hoặc nhập khẩu làm nguyên liệu chế biến, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, năm 2026, chúng ta quyết tâm hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch; các bộ, ngành phải bắt tay ngay vào rà soát, tháo gỡ từng điểm nghẽn về hạ tầng, logistics, giống và thị trường, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ngành nông nghiệp trên 4% năm 2027.