Từ “cửa ngõ” thông quan truyền thống
Hải Phòng là đầu mối giao thông tại khu vực phía bắc có khả năng kết nối đồng thời 5 phương thức vận tải, gồm đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và đường hàng không.
Thời gian qua, dịch vụ cảng biển và logistics của Hải Phòng đạt được nhiều kết quả tích cực, từng bước trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố.
Theo Phó trưởng Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng Nguyễn Thị Bích Dung, tăng trưởng dịch vụ logistics bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 10,2%/năm, tỷ trọng đóng góp vào GRDP thành phố ước đạt bình quân 11,5%; sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Hải Phòng tăng trưởng mạnh và liên tục qua các năm, đạt tăng trưởng bình quân hơn 11%/năm.
Về hạ tầng cảng biển, Hải Phòng hiện có hơn 50 bến cảng, tiêu biểu là Khu bến cảng Lạch Huyện gồm 6 bến cảng đã đi vào hoạt động, là một trong những cảng biển hiện đại và quy mô lớn nhất Việt Nam và là cảng nước sâu lớn nhất khu vực miền bắc, giữ vai trò trung tâm container quốc tế của hệ thống cảng Hải Phòng.
Trong đó bến cảng lớn nhất (bến số 5, 6 Lạch Huyện) có thể tiếp nhận tàu container có tải trọng đến 200.000 DWT (giảm tải) khai thác các tuyến trực tiếp đến châu Á, châu Âu và châu Mỹ; bến số 7, 8 dự kiến khởi công trong tháng 11/2026; các bến từ số 9 đến 12 đã được quy hoạch chi tiết 1/500.
Ngoài ra, trên địa bàn Hải Phòng có 6 trung tâm logistics (trong đó 4 trung tâm đang hoạt động, 2 trung tâm đang xây dựng); 46 kho ngoại quan và 25 kho CFS.
Thành phố cũng đã từng bước đẩy mạnh số hóa hoạt động khai thác cảng thông qua các giải pháp Hải quan tự động, hệ thống ePort, Smart Gate...
Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống logistics Hải Phòng vẫn còn một số điểm nghẽn cần tập trung xử lý.
Trong đó, phương thức vận tải đường bộ hiện chiếm tỷ trọng hơn 80%, tạo áp lực lớn lên kết cấu hạ tầng giao thông, làm gia tăng chi phí logistics và phát thải khí nhà kính; trong khi kết nối bằng đường sắt và đường thủy nội địa với khu vực hậu phương cảng còn hạn chế.
Quy mô của 6 trung tâm logistics hiện hữu còn nhỏ lẻ, phân tán, mức độ liên kết trong chuỗi dịch vụ 3PL/4PL còn hạn chế và chưa có trung tâm logistics đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế.
Hạ tầng dữ liệu logistics còn phân tán, chưa hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung kết nối liên thông giữa cảng biển, kho bãi, ICD và doanh nghiệp vận tải. Bên cạnh đó, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục là một trong những rào cản đối với phát triển logistics.
Sự hình thành các tuyến giao thương mới trong khu vực được dự báo có thể tác động đến lưu lượng vận tải thủy nội địa và hàng hải. Những yếu tố này đặt ra yêu cầu Hải Phòng tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ mô hình cửa ngõ thông quan truyền thống sang phát triển cực tăng trưởng logistics tích hợp, có năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng cao.
Đến cực tăng trưởng logistics tích hợp
Giám đốc Sở Công thương Hải Phòng Nguyễn Hoàng Long cho biết, để từng bước khắc phục các điểm nghẽn và tổ chức lại không gian phát triển, Hải Phòng đã xây dựng Đề án, đề xuất mô hình logistics “Hai cực-Một trục-Một vành đai”, hướng tới tăng cường đồng bộ các yếu tố về kết nối, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lực cạnh tranh, quản trị và năng lượng.
Trong đó, cực thứ nhất là trung tâm logistics cảng biển quốc tế tại khu vực Lạch Huyện-Đình Vũ, giữ vai trò hạt nhân cửa ngõ xuất nhập khẩu, trung tâm container, hạt nhân Khu thương mại tự do và cảng biển thông minh; thành phố định hướng phát triển Trung tâm logistics Lạch Huyện với quy mô 300-500ha, có khả năng mở rộng lên 650ha.
Cực thứ hai là trung tâm trung chuyển, năng lượng và dịch vụ hàng hải chiến lược tại khu vực Nam Đồ Sơn, đảm nhận chức năng tiếp nhận hàng rời, phát triển trung tâm năng lượng sạch (LNG, điện gió) và các dịch vụ hàng hải cao cấp, góp phần phân bổ lại năng lực khai thác và giảm áp lực cho khu vực Lạch Huyện, với quy mô quy hoạch dự kiến 2.500-3.000ha trong giai đoạn đến năm 2035.
Kết nối giữa hai cực và khu vực hậu phương được tổ chức thông qua “một trục” logistics đa phương thức, lấy tuyến đường sắt khổ 1.435mm Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng làm tuyến kết nối chính, đồng thời liên kết với cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, đường cao tốc ven biển, các tuyến đường thủy nội địa chính và mạng lưới hàng không Cát Bi-Gia Bình.
Song song với đó là “một vành đai” logistics vệ tinh và năng lượng xanh, bao gồm hệ thống cảng cạn ICD, kho ngoại quan và depot phân phối, thực hiện chức năng gom, phân phối hàng hóa từ khu vực hậu phương, kết hợp với vành đai năng lượng tái tạo Bạch Long Vĩ-Cát Bà-Nam Đồ Sơn nhằm cung cấp nguồn điện sạch cho hoạt động cảng biển và công nghiệp.
Đồng thời đề xuất hình thành 3 khu vực TOD Logistics, với quy mô từ 50-200ha/khu (TOD Logistics số 1 - Kiến Hưng, Kiến Hải; TOD Logistics số 2 - Ninh Xá; TOD Logistics số 3 - Nam Hải Dương), tích hợp hạ tầng giao thông đa phương thức với quy hoạch sử dụng đất logistics và đô thị dịch vụ.
Mục tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030, Hải Phòng phấn đấu nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics lên 11-12% GRDP của thành phố; duy trì tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics đạt 13-16%/năm; sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng bình quân từ 12%/năm trở lên.
Định hướng đến năm 2050, Hải Phòng phát triển thành trung tâm logistics quốc tế hiện đại, hướng tới vị thế trung tâm logistics quan trọng của khu vực Đông Nam Á và thế giới, đồng thời đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải ròng của quốc gia về phát thải ròng bằng “0”.
Các giải pháp trọng tâm tạo nền tảng phát triển trung tâm logistics quốc tế hiện đại cũng được thành phố xác định, trong đó tập trung cải cách thể chế; đầu tư hạ tầng; xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia có năng lực quản trị toàn cầu để đầu tư vào các khu kinh tế, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, cảng biển nước sâu, trung tâm logistics, tạo hệ sinh thái liên kết công nghiệp-dịch vụ logistics
Thành phố tập trung xây dựng nền tảng cảng biển số và nền tảng dữ liệu logistics dùng chung theo nguyên tắc “một bộ dữ liệu dùng nhiều lần”; nâng cấp Trường đại học Hàng hải Việt Nam thành trung tâm đào tạo trọng điểm quốc gia; thúc đẩy mô hình hợp tác đào tạo “3 bên” giữa nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp, qua đó đáp ứng nhu cầu về nhân lực logistics có kỹ năng số và đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn xanh quốc tế.