Nhân vật- Ðối thoại

GS,TS Nguyễn Quốc Sửu, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công: “Làm luật theo tư duy kiến tạo để mở đường, dẫn dắt, trao quyền và bảo vệ”

“Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới vừa được ban hành không chỉ điều chỉnh kỹ thuật làm luật, mà còn chấn chỉnh triết lý làm luật - hướng tới một nền pháp quyền hiện đại, hiệu lực và kiến tạo phát triển” - đó là nhận định của GS,TS Nguyễn Quốc Sửu, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, ông cũng chia sẻ những góc nhìn sắc sảo về các “nút thắt” thể chế cần tháo gỡ, phương pháp tiếp cận mới để nâng cao năng lực kiến tạo của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
GS,TS Nguyễn Quốc Sửu
GS,TS Nguyễn Quốc Sửu

Xin ông cho biết những bất cập hiện nay trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, và đâu là vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết số 66 hướng tới tháo gỡ?

Trong thời gian qua, công tác xây dựng và thi hành pháp luật tuy đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn còn ba bất cập lớn mang tính hệ thống:

Trước hết, đó là tư duy làm luật vẫn còn nặng về kiểm soát, hành chính hóa, hơn là phục vụ và kiến tạo. Nhiều văn bản pháp luật mang tính mệnh lệnh, bó hẹp không gian sáng tạo, chưa thật sự mở đường cho phát triển, chưa bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Tư duy “xin-cho” vẫn tồn tại dai dẳng trong các thiết kế pháp lý.

Bên cạnh đó, chất lượng lập pháp chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Luật còn chồng chéo, thiếu thống nhất, đánh giá tác động chính sách còn hình thức. Cơ chế tham vấn xã hội yếu, dẫn đến chính sách thiếu tính khả thi. Đặc biệt, quy trình lập pháp đang bị phân tán - Chính phủ làm luật, Quốc hội thông qua, nhưng thiếu sự phối hợp và giám sát chất lượng ở tầm chiến lược.

Sau cùng, khâu tổ chức thi hành pháp luật còn yếu và thiếu đồng bộ. Nhiều quy định không được cụ thể hóa bằng văn bản dưới luật; việc triển khai thực hiện còn phân tán, thiếu thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương. Khoảng cách giữa “luật trên giấy” và “luật trong đời sống” vẫn rất lớn.

Nghị quyết số 66 ra đời đúng thời điểm để tháo gỡ các “nút thắt” trên. Vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết đặt ra là: phải đổi mới tư duy lập pháp theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển.

Điều đó có nghĩa là: chuyển từ làm luật để kiểm soát sang làm luật để dẫn dắt; từ tư duy quyền lực đơn tuyến sang phối hợp thể chế đa trung tâm; từ quy trình soạn thảo khép kín sang mô hình lập pháp đồng kiến tạo - có sự tham gia thực chất của người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Nói cách khác, Nghị quyết số 66 không chỉ tác động đến quy trình làm luật, mà còn đặt lại toàn bộ triết lý làm luật - hướng tới một nền pháp quyền phát triển, nhân văn và năng lực cao. Đây chính là nền tảng thể chế cho một Nhà nước kiến tạo hiện đại.

Phải chăng một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết là đổi mới tư duy - từ quản lý sang kiến tạo, từ áp đặt sang đồng hành?

Đúng vậy. Một trong những tinh thần đột phá nhất của Nghị quyết số 66 là yêu cầu chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “kiến tạo phát triển”. Đây không chỉ là thay đổi về kỹ thuật lập pháp, mà là sự chuyển hóa sâu sắc trong triết lý nhà nước.

Tư duy quản lý vốn bắt nguồn từ mô hình hành chính bao cấp - chú trọng kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro, áp đặt mệnh lệnh. Trong mô hình này, pháp luật thường trở thành rào chắn, giới hạn, và sản sinh ra cơ chế “xin-cho”.

Nhưng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, mô hình đó đã lỗi thời. Tư duy kiến tạo đặt pháp luật vào vai trò “bà đỡ” cho phát triển - tháo gỡ rào cản, mở rộng dư địa đổi mới, bảo vệ quyền con người, bảo đảm môi trường pháp lý minh bạch và công bằng.

Làm luật theo tư duy kiến tạo là làm luật để mở đường, dẫn dắt, trao quyền và bảo vệ. Làm luật không để làm thay xã hội, mà tạo điều kiện cho xã hội vận hành hiệu quả, sáng tạo và bền vững.

Chuyển đổi tư duy này còn có nghĩa là: không vi mô hóa điều hành, mà tạo khung pháp lý ổn định, minh bạch; không chạy theo hình thức, mà đo bằng hiệu quả thực chất trong cuộc sống; không coi người dân là đối tượng quản lý, mà là chủ thể phát triển.

Nghị quyết số 66 nhấn mạnh: Xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật. Chỉ khi pháp luật gắn bó với đời sống, bám sát thực tiễn, đồng hành cùng sự phát triển, thì thể chế mới là động lực - không phải lực cản. Nói một cách hình ảnh: nếu tư duy quản lý là “rào chắn”, thì tư duy kiến tạo là “cầu nối” - và cầu nối ấy chính là con đường ngắn nhất để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường.

Theo ông, để hiện thực hóa tư duy làm luật kiến tạo và bám sát thực tiễn như Nghị quyết số 66 đề ra, chúng ta cần công nghệ, kỹ thuật nào?

Tư duy làm luật kiến tạo không thể hiện thực hóa chỉ bằng ý chí chính trị, mà cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ và kỹ thuật hiện đại. Theo tôi, có ba nhóm công nghệ - kỹ thuật trọng yếu:

Đầu tiên, đó là ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) trong xây dựng chính sách. Big Data và AI có thể giúp phân tích hành vi xã hội, đo lường tác động chính sách và thậm chí phát hiện xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn khởi thảo dự luật. Nhiều quốc gia đã sử dụng AI để mô phỏng tác động kinh tế-xã hội của dự thảo luật, từ đó đưa ra các phương án tối ưu trước khi trình cơ quan lập pháp. Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống “trí tuệ chính sách” (policy intelligence) - nơi các quyết định lập pháp không chỉ dựa trên trực giác, mà dựa trên bằng chứng số hóa, khoa học và khách quan.

Tiếp theo, kỹ thuật đánh giá tác động chính sách (RIA) chuyên sâu, định lượng và bắt buộc. Nghị quyết số 66 đã đặt yêu cầu rất rõ: Các hoạt động tổng kết, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đánh giá tác động chính sách, lựa chọn chính sách phải được thực hiện kỹ lưỡng, thực chất, khoa học. Điều này đòi hỏi việc đánh giá phải được số hóa, chuẩn hóa và gắn với thông lệ quốc tế, đặc biệt là theo khuyến nghị của OECD. RIA không thể là công việc nội bộ của một vài cơ quan, mà cần có sự tham gia của chuyên gia độc lập, doanh nghiệp, người dân - để phản ánh đầy đủ tính khả thi và tính chính đáng của chính sách.

Nhóm công nghệ, kỹ thuật thứ ba: chuyển đổi số toàn diện trong quy trình lập pháp và phản biện xã hội. Phải tạo ra một nền tảng số thống nhất - nơi người dân, doanh nghiệp, trí thức có thể tham gia góp ý trực tuyến, theo dõi quá trình soạn thảo, truy cập thông tin và truy xuất thay đổi của từng dự thảo luật. Đây chính là hình thức “dân chủ số trong lập pháp” - giúp nâng cao tính công khai, minh bạch và đồng thuận xã hội. Một số quốc gia như Estonia, Hàn Quốc, Singapore đã áp dụng thành công mô hình GovTech - công nghệ chính phủ - để số hóa toàn bộ chu trình pháp luật, từ ý tưởng chính sách đến triển khai thi hành. Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi và linh hoạt vận dụng các mô hình đó vào thực tiễn.

Tóm lại, công nghệ là công cụ, nhưng triết lý kiến tạo mới là kim chỉ nam. Khi công nghệ được vận hành trên nền tư duy đổi mới, pháp luật sẽ không còn là rào cản, mà trở thành hệ điều hành thông minh cho sự phát triển của quốc gia.

Vậy theo ông, chúng ta cần quan tâm đầu tư nguồn lực ra sao để pháp luật thật sự trở thành động lực phát triển, chứ không phải lực cản?

Muốn chuyển từ tư duy làm luật “quản lý” sang tư duy “kiến tạo”, muốn biến pháp luật thành động lực phát triển thay vì là vật cản, thì điều kiện tiên quyết là phải có nguồn lực đủ mạnh và được phân bổ đúng chỗ. Tôi cho rằng cần ưu tiên ba nhóm nguồn lực then chốt:

Thứ nhất, đầu tư cho con người - đội ngũ xây dựng và thực thi pháp luật. Một nền pháp luật hiện đại bắt đầu từ con người làm luật tinh thông, có tư duy cải cách, am hiểu thực tiễn và tiếp cận được với các chuẩn mực quốc tế. Phải có chiến lược “trí tuệ hóa” đội ngũ pháp lý - không chỉ ở Quốc hội hay các bộ, ngành, mà còn trong các tổ chức tư vấn chính sách, trung tâm phản biện độc lập và các trường đại học luật. Nghị quyết số 66 đã khẳng định: Xây dựng giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Đây không chỉ là chuyện biên chế hay lương thưởng, mà là đầu tư dài hạn cho chất lượng thể chế quốc gia.

Thứ hai, đầu tư vào hạ tầng pháp lý số và công nghệ thể chế. Muốn hiện đại hóa quy trình lập pháp, không thể thiếu các nền tảng số hóa toàn bộ chu trình pháp luật - từ cổng thông tin góp ý dự thảo, hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, đến công cụ quản lý thi hành pháp luật theo thời gian thực. Đây không chỉ là bài toán công nghệ, mà là giải pháp căn bản để thu hẹp khoảng cách giữa “luật trên giấy” và “luật trong đời sống”.

Thứ ba, đầu tư cho thể chế thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và tham vấn chính sách. Một quốc gia muốn phát triển đột phá thì không thể “làm luật chạy theo thực tiễn”. Phải có cơ chế pháp lý cho thử nghiệm (sandbox), cho thí điểm chính sách, có ngân sách nhà nước dành riêng cho phản biện độc lập, đánh giá tác động và đối thoại chính sách. Không thể mãi trông chờ vào sự “tự phát nhiệt tình” của giới học thuật hay doanh nghiệp. Phản biện chính sách là một phần không thể thiếu của quá trình lập pháp hiện đại.

Tóm lại, đầu tư cho thể chế không phải là một “chi phí”, mà là một khoản đầu tư sinh lời cao nhất về dài hạn. Quốc gia nào dám đầu tư cho pháp luật - quốc gia ấy sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững, sáng tạo và cạnh tranh toàn cầu.

Xin cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh | ĐĂNG KHOA

Tự chủ chiến lược, nghĩ và làm

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là một lời hiệu triệu chính trị, mà còn là sự định hình lại một trục tư duy phát triển. “Tự chủ chiến lược” được đặt ở vị trí trung tâm, gắn chặt với hai mục tiêu chiến lược 100 năm và yêu cầu hành động đồng bộ của toàn hệ thống chính trị.

Cử tri bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu số 12, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội.

Góp sức cho cuộc bầu cử thành công

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Công tác chuẩn bị được triển khai chủ động, đồng bộ, bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm. Ngày bầu cử thật sự là ngày hội lớn của toàn dân.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng (phải) thực hiện phóng sự dài kỳ trên Nhân Dân cuối tuần về tình trạng đánh bắt cá trái phép trên hồ Thác Bà (Lào Cai), tháng 1/2026.

Một hành trình dài về dưới bóng “cụ đa”

Ngày đầu tiên đi làm tại Báo Nhân Dân, ngày 1/1/2026, tôi đã đứng chụp ảnh bên gốc đa cổ thụ trong khuôn viên tòa soạn và đăng dòng cảm xúc trên Facebook cá nhân - “được làm việc dưới bóng cụ đa huyền thoại”. Với tôi, đó là sự khởi đầu mới sau hành trình dài bao kỷ niệm, hơn 30 năm.

PGS, TS Phạm Văn Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu Bảo tàng, Cục Quản trị (Văn phòng Trung ương Đảng)

Nơi lưu giữ di sản của nhân dân

Dự án xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu, rất khẩn trương, với mục tiêu hoàn thành vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2030).

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng kiểm tra an toàn bức xạ tại các đơn vị trên địa bàn. Ảnh | THANH HÀ

Những ý kiến tâm huyết của đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng

Với phương châm Đoàn kết-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển, Đại hội XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng công an tham gia Lễ Diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

Một phần tư thế kỷ XXI đã đi qua. Năm 2026 tiếp nối trong bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1/2026.

GS.TS Tạ Ngọc Tấn

“Văn kiện Ðại hội XIV của Ðảng được đổi mới để gần dân, dễ hiểu, dễ tổ chức thực hiện”

Khi công tác xây dựng các dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng bước vào giai đoạn hoàn thiện, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ phó Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện Đại hội XIV của Đảng dành cho Nhân Dân hằng tháng cuộc trao đổi.

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh trong bài | Thành Đạt

Ấn tượng 2025

Năm 2025 lùi lại phía sau như một cuốn phim quay chậm, đầy ánh sáng và những gam màu mạnh mẽ.

Làm tốt công tác quy hoạch góp phần thúc đẩy phát triển đô thị.

KHƠI THÔNG MẠCH NGUỒN PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

Nhiều năm trước, dự án khu đô thị Thủ Thiêm- biểu tượng cho khát vọng vươn lên của Thành phố Hồ Chí Minh, đã có lúc rơi vào tình trạng gần như “đứng yên” vì những vướng mắc trong quy hoạch.

Từ lợi thế kinh tế cảng biển, cảng Hải Phòng được kỳ vọng trở thành điểm đến toàn cầu.

Thành tựu 40 năm đổi mới khẳng định tầm vóc Việt Nam

Trước Đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế-xã hội diễn ra gay gắt. Sau gần 40 năm, nước ta đã vươn lên trở thành quốc gia có cơ đồ vững chắc, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế quốc tế không ngừng được khẳng định.

Ông Kwuyên Cil trò chuyện với người dân tổ dân phố B’ Nơr B.

Người “gỡ rối” dưới chân núi Lang Biang

Nam Tây Nguyên mùa nắng lạnh. Dã quỳ trải sắc vàng mênh mang núi đồi. Dưới chân núi Lang Biang, những căn nhà gỗ truyền thống và những ngôi biệt thự của người Cơ Ho ở tổ dân phố B’Nơr B như bản hòa ca đầy sức sống.

Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Ảnh | TTXVN

Lý luận về đường lối đổi mới

Gần 40 năm, kể từ tháng 12/1986, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã viết nên kỳ tích phát triển chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Bước vào Đại hội XIV, dấu mốc mở ra kỷ nguyên phát triển mới, Đảng ta lần đầu khẳng định, lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trụ sở mới của Bộ Ngoại giao được xây dựng tại số 2 Lê Quang Đạo (phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

CHỐNG LÃNG PHÍ PHẢI BẮT ÐẦU TỪ XÁC LẬP ÐÚNG ƯU TIÊN

Lãng phí không chỉ nằm ở tiêu xài hoang phí, mà còn ẩn trong cách ra quyết định, thiết kế chính sách, tổ chức bộ máy và sử dụng nguồn lực. Một trong những nguyên nhân sâu xa nhất chính là việc xác lập sai thứ tự ưu tiên, dẫn đến đầu tư dàn trải, chính sách chồng chéo và những lựa chọn kém hiệu quả.

Đường phố rực rỡ cờ hoa trong những ngày diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, nhiệm kỳ 2025-2030.

Đổi mới hình thức tuyên truyền, lan tỏa niềm tin

Công tác tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng được tổ chức triển khai sâu rộng, đồng bộ với nhiều hình thức đa dạng, cách làm sáng tạo ở nhiều địa phương trong cả nước.

Đồng chí Tạ Quang Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xuân Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Ðiểm sáng chuyển đổi số ở Ðồng Nai

Sau bốn tháng triển khai, hoạt động mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Đồng Nai ngày càng phát huy hiệu quả. Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn đồng chí Tạ Quang Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xuân Hòa - một điểm sáng về chuyển đổi số (CĐS).

Các đại biểu nghiên cứu tài liệu trên thiết bị điện tử tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh | Xuân Trường

Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh: Lan tỏa tinh thần đổi mới

Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2025-2030 thành công tốt đẹp. Ngay sau đại hội, các chương trình hành động được khẩn trương triển khai, thể hiện quyết tâm đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, kỳ vọng một nhiệm kỳ mới nhiều khởi sắc.

Bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành khóa mới tại Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Lai Châu, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh | TRẦN TUẤN

“Giữ mình chờ thời”

Mỗi dịp đại hội đảng, bầu cấp ủy, làm quy trình quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, thường có hiện tượng “im lặng khó hiểu”, “im lặng đáng sợ”, rồi bên ngoài râm ran, tiếng bấc tiếng chì, nhưng vào hội nghị thì người ta rất ngại nêu chính kiến.