Gìn giữ hương vị sản phẩm truyền thống nước mắm Nam Ô

Nằm dưới chân đèo Hải Vân, làng Nam Ô thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng là một làng biển lâu đời còn sót lại. Nhờ sự gìn giữ của biết bao thế hệ ngư dân, đến nay nghề làm nước mắm Nam Ô đã trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Dù phải chịu áp lực thương trường, người dân nơi đây vẫn quyết giữ lại cái mặn mà nguyên chất của sản phẩm truyền thống, mang hồn cốt bao đời của cha ông để lại.
Anh Phan Quang bên những chum mắm tâm huyết của mình.
Anh Phan Quang bên những chum mắm tâm huyết của mình.

Danh truyền nước mắm Nam Ô

Suốt 10 năm cần mẫn ghi lại những chuyện từ xưa đến nay về làng, ông Đặng Dùng (75 tuổi), được người làng Nam Ô ví như một “kho sách sống” lưu giữ những tập tục, lối sống, văn hóa của làng.

Bàn về tiếng thơm “danh bất hư truyền” của nước mắm Nam Ô, ông Đặng Dùng cho rằng: “Cùng một công thức pha chế nước mắm, cùng một loại cá và muối, nhưng khi đem qua nơi khác ủ, lại không thể có hương vị đặc biệt như nước mắm Nam Ô, với mùi thơm lạ thường, quyến rủ. Bí quyết làm mắm cùng khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây đã làm cho con cá trong chum mắm kia mang hương vị của nghề, của vùng đất lâu đời”.

Theo ông Dùng, Nam Ô là điển hình nơi nước ngọt của sông giao hòa với nước mặn của vịnh Đà Nẵng. Nhờ nước sông Cu Đê đổ ra nên nồng độ muối của vùng biển nơi đây không quá mặn, tạo điều kiện cho các phiêu sinh thực vật sinh sôi, trở thành nguồn thức ăn phong phú và phù hợp cho các loài cá để làm nước mắm như cá cơm than. Từ lợi thế đó, Nam Ô theo một cách tự nhiên trở thành một làng nghề truyền thống đánh bắt hải sản, có nhiều cách chế biến nổi danh như: nước mắm, gỏi cá, rong mứt…

Theo sử sách, nghề làm nước mắm ở Nam Ô còn là sự tiếp biến văn hóa Chăm-pa của lưu dân người Việt từ bắc Hải Vân vào lập nghiệp.

Ông Trần Ngọc Vinh (74 tuổi), Chủ tịch Hội làng nghề nước mắm truyền thống Nam Ô kể lại: “Khi xưa vì không có cân, ông cha ta cứ lấy chừng 10 tô cá và 1 tô muối ủ trong vòng 2 tháng là có nước mắm ngon ngọt. Nhưng đến tháng thứ 3 trở đi, mắm sẽ hư vì muối nhạt dần. Rút kinh nghiệm, họ tăng dần lượng muối lên thì để được 9 tháng trở lên. Nghề luyện nghề, bà con lại tiếp tục tăng lên 3 muối rưỡi, 4 muối, thì để được 12 tháng”.

Danh tiếng của nước mắm Nam Ô do thiên nhiên ưu đãi, nhưng ở đó còn có sự kết tinh giữa văn hóa và tay nghề làm mắm của người Nam Ô.

“Cá không ăn muối cá ươn. Người dân nơi đây không xếp từng lớp cá, lớp muối mà vẫn trộn cá với muối theo cách bóp truyền thống, cho nên cá nào cũng ăn muối cả. Để lâu ngày không nghe không nghe mùi sình thối, mà là mùi mắm thơm lừng”, ông Đặng Dùng chia sẻ.

Nước mắm Nam Ô ngày nay thường được làm từ cá cơm và muối Cà Ná.

Nước mắm Nam Ô ngày nay thường được làm từ cá cơm và muối Cà Ná.

Gìn giữ hương vị truyền thống

Cùng ăn, cùng ngủ với nghề làm nước mắm, ông Trần Ngọc Vinh luôn đau đáu với việc bảo đảm cho các hội viên làng nghề phải giữ lấy hương vị truyền thống.

Theo ông Vinh, cái ngon ngọt của mắm Nam Ô không chỉ xuất phát từ nguyên liệu, mà còn đến từ truyền thống không pha chế. Theo đó, hội đã đề ra tiêu chí 4 không: không sử dụng chất bảo quản; không sử dụng phụ gia; không chất tạo màu - tạo mùi; không sử dụng đạm tổng hợp, nhằm bảo đảm an toàn sức khỏe của người tiêu dùng.

“Hội viên nào làm mắm cũng phải tuân thủ tiêu chí đó. Đấy là cái tâm của người làm nước mắm Nam Ô”, ông Vinh chia sẻ.

Ông Vinh cũng khẳng định, hầu như 63 hội viên Hội làng nghề nước mắm truyền thống Nam Ô hiện nay đều bảo đảm tiêu chí 4 không. Lớn lên từ những bát cơm chan mắm mặn mòi, bà Bùi Thị Hoa (78 tuổi), chủ cơ sở sản xuất nước mắm Bà Hoa, khẳng định: “Nước mắm truyền thống là phải nguyên chất, chỉ có cá với muối. Muốn mắm có hương thì phải chăm mắm trong vòng 1 năm không phải vài tháng, để cho con cá nó chín, rục xương. Đấy mới là hương vị truyền thống”.

Cùng một cách nghĩ, cách làm, anh Phan Quang, Giám đốc Hợp tác xã nước mắm truyền thống Ô Long, thuộc thế hệ trẻ của làng nghề, cũng đề cao tính nguyên chất của nước mắm. Tuy dành sự quan tâm cho việc bán hàng để đáp ứng nhu cầu của thị trường, nhưng tuyệt nhiên, anh Quang không vì lợi nhuận, thị hiếu mà đánh mất sự nguyên chất của nước mắm Nam Ô.

Anh Phan Quang cho biết: “Khách hàng đến với nước mắm truyền thống là từ sự tin tưởng nước mắm không pha chế. Từ cái chum ủ mắm trong hẻm, trong ngách, đến ngày hôm nay mình được kế thừa, đem ra thị trường thì phải tuân thủ quy cách làm mắm của cha ông”.

“Nguyên chất là cái truyền thống của làng nghề mà ông cha truyền lại. Nước mắm đã pha chế thì không gọi là truyền thống nữa. Mình điều chỉnh độ mặn để phục vụ cho khách là chỉ dẫn cách dùng pha chế trong bát, không phải trong chai mắm”, ông Trần Ngọc Vinh, Chủ tịch Hội làng nghề nước mắm truyền thống Nam Ô nhấn mạnh.

Bà Trần Thị Phương, Phó Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa, phụ trách Di sản văn hóa phi vật thể của Bảo tàng Đà Nẵng nhận định: “Trải qua bao thăng trầm, biến thiên thay đổi của thời gian, nghề làm nước mắm Nam Ô đến nay vẫn được gìn giữ và phát triển. Những kinh nghiệm dân gian, bí quyết, kỹ thuật làm nước mắm vẫn không ngừng được bảo lưu và trao truyền qua nhiều thế hệ. Đây không chỉ là một sản phẩm ẩm thực, mà còn là biểu tượng văn hóa, có tính đại diện, thể hiện bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương”.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa. (Ảnh có sử dụng AI)

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo trình tự, thủ tục rút gọn

Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026 kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới và giao nhiệm vụ hoàn thiện các dự án Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà (bên phải) chụp cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận vào tháng 5/1975. (Ảnh: TƯ LIỆU)

Tiếp nối khát vọng vun đắp âm nhạc bác học Việt Nam

Trong dòng chảy âm nhạc bác học Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật opera và nhạc kịch chuyên nghiệp. Hơn nửa thế kỷ sau, những tư duy nghệ thuật và khát vọng của ông vẫn tiếp tục được các thế hệ nghệ sĩ kế thừa. 

Cảnh trong vở "Các cụ gánh còng lưng" (Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh Ninh Bình) - tác phẩm đạt Huy chương Vàng vở diễn tại Liên hoan quốc tế sân khấu thử nghiệm năm 2025.

Đưa sân khấu vào chuỗi giá trị văn hóa

Những năm qua, sân khấu Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tìm tòi, đổi mới. Không ít vở diễn được đầu tư công phu, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật và bản sắc dân tộc, được giới chuyên môn ghi nhận. Tuy vậy, vẫn có khá nhiều vở diễn sức sống của tác phẩm chưa tương xứng với chất lượng sáng tạo.

Nhà thiết kế Hàn Phượng (đứng chính giữa) và dàn nghệ sĩ ra chào khán giả.

Bộ sưu tập áo dài Việt Nam của nhà thiết kế Hàn Phượng mở màn Global Fashion Week All Stars 2026

Tối 31/7, bộ sưu tập mới "Huyền sắc non cao" của nhà thiết kế Hàn Phượng gây chú ý với màn trình diễn của nhiều nghệ sĩ được công chúng yêu mến, mang đến hành trình nghệ thuật lấy cảm hứng từ thiên nhiên, văn hóa và con người miền núi phía bắc, góp phần lan tỏa vẻ đẹp của áo dài Việt Nam trên sàn diễn thời trang quốc tế.

Các đại biểu, diễn viên Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh cùng các em tham gia khóa học chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: LINH ĐOAN)

Nuôi dưỡng đam mê kịch nói cho thiếu nhi

Lần đầu tiên, Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp dạy kỹ năng biểu diễn sân khấu học đường cho học sinh trên địa bàn. Sau một khóa học kéo dài gần 2 tháng, các bạn nhỏ đã mở cánh cửa đầu tiên trên hành trình khám phá vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật kịch nói.

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Đổi mới cơ chế đặt hàng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển, đưa công nghiệp văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa, cơ chế đặt hàng cần thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy đầu tư cho tác phẩm sang đầu tư cho tài sản văn hóa.

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày diễn văn kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)

Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn (tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng tỉnh Hưng Yên tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu ý kiến tại hội thảo.

Bài học từ Báo Việt Nam Độc lập: Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm mục tiêu cao nhất của hoạt động báo chí

Chiều 30/7, tại Trung tâm hội nghị tỉnh, tỉnh Cao Bằng phối hợp Báo Nhân Dân, Hội Nhà báo Việt Nam, Trường đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn, Bảo tàng Báo chí Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Báo Việt Nam Độc lập - Giá trị lịch sử và khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới".

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Chiều 30/7, tại Hà Nội, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Cục Bản quyền tác giả Nhật Bản tổ chức Hội thảo về thực thi bản quyền trên môi trường số, quy tụ đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức thực thi quyền tác giả, doanh nghiệp và chuyên gia hai nước.

Ảnh minh họa. (Báo Nhân Dân)

Quảng Trị khuyến khích ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức việc cưới

Ngày 29/7, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết, vừa ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội. Đặc biệt, tỉnh khuyến khích ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức việc cưới.