Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Thái Ly-cây đại thụ của ngành múa Việt Nam

Ngày 25/12, tại Hà Nội, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Thái Ly-Cuộc đời và sự nghiệp” nhân kỷ niệm 91 năm Ngày sinh và 29 năm Ngày mất của cố Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Thái Ly (1930-1992)-người đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền nghệ thuật múa nước nhà.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học “GS,NSND Thái Ly-Cuộc đời và sự nghiệp”.
Toàn cảnh Hội thảo khoa học “GS,NSND Thái Ly-Cuộc đời và sự nghiệp”.

Phát biểu đề dẫn tại Hội thảo, Tiến sĩ (TS), Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Phạm Anh Phương, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam cho biết, lẽ ra hội thảo được tổ chức vào đúng dịp TP Hồ Chí Minh đặt tên đường Thái Ly cho một tuyến đường ở Thủ Đức (tháng 4/2021), nhưng do tính chất phức tạp, khó lường của đại dịch Covid-19 trên toàn quốc nên hội thảo buộc phải lùi lại.

“Diễn ra dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch Covid, hội thảo không chỉ là dịp tri ân, tôn vinh một người nghệ sĩ-chiến sĩ kiên trung, một nhân cách, tài năng đã dâng hiến cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và sự nghiệp xây dựng nền nghệ thuật múa cách mạng Việt Nam; mà còn là dịp để nghiên cứu sâu hơn những giá trị tư tưởng, nghệ thuật và học thuật trong di sản đồ sộ của GS,NSND Thái Ly mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị để phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, TS,NSND Phạm Anh Phương nhấn mạnh.

GS,NSND Thái Ly tên thật là Nguyễn Đình Thái, sinh ngày 6/7/1930 tại Hải Dương trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Ông được biết đến là cây đại thụ của ngành múa Việt Nam, là một trong những người đã đặt nền móng cho kịch múa và nghệ thuật múa cách mạng.

Những năm 1950, khi đang làm việc ở Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam) tại Chiến khu Việt Bắc, ông được cử sang du học ở Trung Quốc. Sau 5 năm học tập tại Học viện Nghệ thuật Múa Bắc Kinh, với tấm bằng tốt nghiệp xuất sắc Khoa Biên đạo múa, ông trở về nước và trở thành một trong những người xây dựng những bước đi đầu tiên cho Trường Múa Việt Nam (nay là Học viện Múa Việt Nam), giữ cương vị Phó Hiệu trưởng. Ông đã góp phần đào tạo nhiều tài năng biên đạo múa, diễn viên múa xuất sắc của Việt Nam.

Trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông xung phong vào chiến trường miền nam, trở thành Phó Vụ trưởng Văn nghệ của của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, Trưởng Đoàn Ca múa Giải phóng. Tại đây, ông đã sáng tác, biểu diễn và đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật phục vụ chiến sĩ, đồng bào.

Sau ngày thống nhất đất nước, GS,NSND Thái Ly là người đặt nền móng thành lập Trường Múa Thành phố Hồ Chí Minh với cương vị Hiệu trưởng. Bên cạnh công tác quản lý, ông hăng say tham gia sáng tác, huấn luyện, nghiên cứu lý luận nhằm phát triển đội ngũ nghệ sĩ múa phương nam.

Nói đến những sáng tác của GS,NSND Thái Ly là nói đến những tác phẩm múa và kịch múa đã trở thành kinh điển như: Đôi bờ (âm nhạc Nguyễn Đình Tích), Cánh chim và ánh mặt trời (âm nhạc Xuân Hòa), Katu (âm nhạc Nguyễn Đình Tích, đồng tác giả cùng Nghệ sĩ Ưu tú Ngân Quý)… Trong đó, Cánh chim và ánh mặt trời, Katu là hai tác phẩm múa đã được biểu diễn rộng rãi trên các sân khấu trong nước và quốc tế  trải dài suốt thế kỷ 20 cho tới tận ngày nay.

Cùng với đó, là những tác phẩm như: thơ múa Hái hoa dâng Bác (âm nhạc Vĩnh Cát), kịch múa Bà mẹ miền nam (âm nhạc Xuân Hòa, Nguyễn Đình Tích), kịch múa Bả Khó (âm nhạc Nguyễn Đình Tích), Xuống đường (âm nhạc Lưu Hữu Phước), Bài ca hy vọng (âm nhạc Văn Ký, Trường Nam)…

Trong nghiên cứu lý luận, ông luôn đề cao các giá trị văn hóa truyền thống và nghệ thuật múa dân tộc. Ông là biên đạo múa hiếm hoi đưa ra quan điểm về phương pháp nghiên cứu liên ngành. Quan điểm này trong tư duy sáng tạo của ông đã góp phần quan trọng trong xây dựng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ tác phẩm múa, song hành cùng sự phong phú về đề tài, đa dạng về hình thức, sâu sắc về nội dung, am tường về nghệ thuật âm nhạc.

GS,NSND Thái Ly đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Chiến thắng. Với những đóng góp to lớn ở cả bốn lĩnh vực: đào tạo, sáng tác, biểu diễn và nghiên cứu lý luận về nghệ thuật múa, ông được trao danh hiệu NSND đợt đầu tiên năm 1984 và là người đầu tiên của ngành múa Việt Nam được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Hội thảo đã nhận được hơn 30 tham luận của các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa, từ đó khẳng định vị trí, vai trò khai mở cho ngành múa Việt Nam của GS,NSND Thái Ly, đồng thời làm sáng tỏ nhân cách cao đẹp của một nghệ sĩ-chiến sĩ kiên trung, một nhà sư phạm mẫu mực, một biên đạo múa tài năng cùng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật và học thuật, đặc biệt là tính dân tộc, hiện đại thấm nhuần trong những tác phẩm của GS,NSND Thái Ly.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.