Đưa công nghệ số phát triển ngành ong Việt

Để giải quyết những thách thức về năng suất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc cũng như nâng cao sức cạnh tranh, việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.

Việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.
Việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.

Công nghệ hóa quy trình nuôi ong

Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, hiện nay cả nước có khoảng 1,5 triệu đàn ong, với hơn 34.000 hộ nuôi, sản lượng mật ong dao động từ 50.000- 60.000 tấn mỗi năm, trong đó hơn 90% phục vụ xuất khẩu. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ mật ong và các sản phẩm từ ong ngày càng gia tăng nhanh chóng, nhờ xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tự nhiên, hữu cơ và tốt cho sức khỏe.

Nghề nuôi ong ở Việt Nam phát triển nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu nhiệt đới gió mùa và các khu vực rừng tự nhiên phong phú. Các vùng sản xuất cây ăn quả, hoa màu và cây lâm nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc tạo môi trường lý tưởng cho các đàn ong phát triển. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng mật ong Việt Nam đang gặp nhiều thách thức do biến đổi khí hậu, dịch bệnh, và sản xuất còn dựa vào phương pháp truyền thống.

Các nhà khoa học nông nghiệp cho rằng, sự suy giảm của diện tích rừng và các vùng trồng cây có hoa cũng gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn thức ăn cho ong, làm gián đoạn quá trình phát triển đàn và giảm năng suất thu hoạch mật ong. Trong bối cảnh này, nhu cầu phát triển và áp dụng các quy trình nuôi ong hiện đại trở nên cần thiết.

3.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) tập huấn kỹ thuật nuôi ong cho người nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố.

Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) là đơn vị chuyên nghiên cứu và chuyển giao các quy trình công nghệ nuôi ong cho các hộ nuôi ong trên cả nước. Trung tâm hiện đang xây dựng các ứng dụng quản lý, truy xuất nguồn gốc cho đàn ong, góp phần tạo hiệu quả trong nghiên cứu, chủ động giống ong, bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Đây không chỉ là đơn vị đầu tiên của Việt Nam thành công với việc thụ tinh nhân tạo cho đàn ong chúa, mà còn ứng dụng công nghệ 4.0 thành công vào quá trình nuôi ong lấy mật, tạo ra hiệu quả kinh tế cao trong khai thác mật ong.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới, ứng dụng công nghệ 4.0 như Internet vạn vật (IoT), Trí tuệ nhân tạo (AI) và Blockchain cùng hệ thống cảm biến thông minh chạy trên nền tảng điện thoại thông minh để giám sát trang trại hay vườn nuôi ong. Phần cứng là thiết bị ứng dụng công nghệ để giám sát thùng ong. Phần mềm là hệ thống truy xuất nguồn gốc gồm ứng dụng giao diện web và ứng dụng di động trên hệ điều hành Android hoặc iOS.

Công nghệ AI được ứng dụng để phân tích hình ảnh hạt phấn, để xác định nguồn gốc và chất lượng của mật ong. Hệ thống điều khiển và giám sát tự động cung cấp thông tin cho người nuôi ong nhờ ba cảm biến về âm thanh, về nhiệt độ và độ ẩm và về trọng lượng. Từ các cảm biến này, dữ liệu được phân tích bằng AI để dự đoán các vấn đề liên quan tới sức khỏe của đàn ong.

Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới triển khai thử nghiệm công nghệ trong việc nuôi ong và giám sát chất lượng mật ong trên hệ thống trang trại nuôi ong ở Tây Nguyên, từ đó đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình, giải pháp và các sản phẩm công nghệ 4.0 này.

Thực tiễn thành công khi triển khai đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào quản lý sản xuất mật ong phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước” trong 3 năm qua của các nhà khoa học ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho thấy, ứng dụng công nghệ được thực hiện trong việc thu thập, quản lý nguồn dữ liệu, minh bạch từ quá trình chăm nuôi ong tới thu hoạch, vận chuyển, phân phối tới tay người tiêu dùng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, chủ nhiệm đề tài cho biết: “Đề tài này đã được Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học vào tháng 3-2025”.

Việc nuôi ong gắn với công nghệ không chỉ dừng ở giám sát mà còn mở ra hướng đi mới trong chọn lọc giống. “Chúng tôi đã ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo để nhân giống ong chúa có năng suất mật cao, sức đề kháng tốt. Đây là cơ sở để hình thành những đàn ong khỏe mạnh, phù hợp với điều kiện khí hậu đang biến đổi”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái chia sẻ thêm.

Truy xuất nguồn gốc: Minh bạch là chìa khóa hội nhập

Thông báo qua máy tính, ứng dụng công nghệ 4.0 giúp người nuôi ong có thể quản lý tới hàng nghìn đàn ong một cách dễ dàng. Còn người sử dụng sản phẩm mật ong chỉ cần sử dụng điện thoại, quét QR Code trên sản phẩm, có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, địa chỉ của con ong giống, nguồn hoa, phòng trị bệnh.

Riêng thông tin theo dõi trọng lượng của đàn ong cũng có thể dự đoán tương đối được năng suất mật của từng đàn, nhờ đó người nuôi lập kế hoạch sản xuất hiệu quả, chủ động số lượng của các hợp đồng đơn đặt hàng phục vụ xuất khẩu và cả thị trường trong nước.

Trong thời gian qua, các nhà khoa học thành công trong việc thử nghiệm phương pháp nuôi ong trong thùng kế nhằm tăng độ tinh khiết của mật ong, tăng chất lượng mật do mật ong không lẫn phấn hoa, xác ấu trùng và có hàm lượng nước thấp. Kỹ thuật này đã được Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới chuyển giao cho nông dân tại một số tỉnh như Nghệ An, Sơn La…

Mô hình ứng dụng công nghệ nuôi ong mật tại rừng tràm Trà Sư (An Giang) minh chứng rõ ràng cho việc chuyển đổi thành công từ nuôi ong bằng thùng đơn sang thùng kế, giúp năng suất và chất lượng cao của sản phẩm. Trung tâm cũng có kế hoạch phối hợp với một số công ty tại Hà Nội, Thái Nguyên và các tỉnh Tây Nguyên để triển khai áp dụng mô hình công nghệ mới này vào thực tiễn.

Bên cạnh việc tập huấn kỹ thuật nuôi ong cho người nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố, các nhà khoa học của Học viện Nông nghiệp Việt Nam còn tích cực liên kết tìm đầu ra cho sản phẩm mật ong. Đơn cử như việc phối hợp với Sở Khoa học và công nghệ Cao Bằng thực hiện đề tài ứng dụng công nghệ 4.0 vào phát triển du lịch cộng đồng, trong đó mô hình bảo tồn ong đá lấy sáp phục vụ du khách tham quan, trải nghiệm…

4.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới hướng dẫn trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Gỡ nút thắt vốn, nhận thức và liên kết

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), ong mật góp phần thụ phấn cho hơn 35% cây trồng lương thực toàn cầu. Do đó, ứng dụng công nghệ không chỉ giúp tăng sản lượng mật, mà còn góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp và bảo vệ an ninh lương thực.

Tại Việt Nam, việc chuyển giao các quy trình công nghệ nuôi ong thực tế đã và đang mang lại hiệu quả trong quy trình sản xuất và quản lý chất lượng. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới nhấn mạnh: “Mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 cho phép dữ liệu được lưu trữ an toàn, không thể bị chỉnh sửa, giúp xác thực sản phẩm trong suốt chuỗi cung ứng từ vùng nuôi đến tay người tiêu dùng. Quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra được minh bạch và cung cấp sản phẩm bảo đảm an toàn”.

Ứng dụng công nghệ cao giúp thay đổi cách thức theo dõi, quản lý đàn ong, từ “sổ hoá” thành “số hoá” vừa giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, mà lại phù hợp với Đề án “Phát triển bền vững ngành ong đến năm 2030” của Việt Nam với mục tiêu trọng tâm phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của ngành ong, xây dựng và bảo vệ thương hiệu sản phẩm ong Việt Nam.

Tuy nhiên, đối với việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào ngành ong lại đang gặp một số khó khăn. Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, phần lớn các hộ nuôi ong có quy mô nhỏ lẻ đều thiếu kinh phí nhất định để đầu tư và hạn chế về nhân lực có kỹ thuật cao khiến họ dù có được tư vấn nhưng chưa mặn mà và quan tâm nhiều đến quy trình sản xuất gắn với ứng dụng công nghệ mới này.

Gần 65% số hộ nuôi ong ở miền bắc và hơn 62% ở miền nam không biết đến các ứng dụng quản lý ong trên điện thoại thông minh. Đây là rào cản lớn trong bối cảnh ngành ong cần chuyển đổi số mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Khảo sát của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy, dù đã có nghiên cứu triển khai, nhưng nhận thức về công nghệ trong cộng đồng nuôi ong rất thấp, hơn 80% người nuôi ong không biết đến công nghệ AI và gần 92% chưa từng nghe đến blockchain.

Hầu hết các hộ nuôi ong vẫn sử dụng phương pháp truyền thống, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân. Chính nhận thức của người nuôi về lợi ích của công nghệ còn hạn chế, khiến việc tiếp cận và áp dụng các giải pháp mới gặp nhiều khó khăn. Trong khi, trên thực tế, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn, các chương trình hỗ trợ hiện nay vẫn còn manh mún và chưa thực sự hiệu quả.

Các nhà khoa học cho rằng, để khắc phục những rào cản trên và có các giải pháp triển khai khả thi áp dụng công nghệ 4.0 vào thực tiễn, ngành ong Việt Nam cần có sự hợp tác, chia sẻ, liên kết tích cực giữa người nông dân với các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp. Ngoài ra, sự hỗ trợ tích cực của hội nông dân, hội khuyến nông tại các địa phương cũng giúp người nuôi ong dần thay đổi phương thức sản xuất, nhanh chóng tiếp cận công nghệ vào sản xuất.

Trước những yêu cầu của ngành ong định hướng cho việc xuất khẩu và minh bạch thị trường tiêu dùng trong nước, áp dụng công nghệ cũng là vấn đề cần được ưu tiên cho phát triển của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay. Hướng đi cần thiết giúp ngành ong phát triển bền vững chính là xây dựng các vùng nuôi ong tập trung gắn với trung tâm chuyển giao công nghệ; thúc đẩy chuyển giao công nghệ theo các chương trình khuyến nông ong, chương trình nông thôn mới…

Có thể bạn quan tâm

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.