Độc đáo nhà rông Ba Na

Có nhà rông thì “làng” mới thật sự là làng. Làng bắt đầu bằng nhà rông, sinh ra cùng nhà rông. Đặt nhà rông cũng tức là đặt trái tim cho cơ thể làng, trái tim ấy bắt đầu đập, truyền máu đi khắp cơ thể làng, kết nối tất cả lại và thổi sự sống vào để nó trở thành một cộng đồng.
Nhà rông của người Ba Na tại Làng du lịch cộng đồng Kon K’Tu, thành phố Kon Tum.
Nhà rông của người Ba Na tại Làng du lịch cộng đồng Kon K’Tu, thành phố Kon Tum.

Người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, tính cộng đồng ấy trước hết và chủ yếu là cộng đồng làng. Nhà rông chính là linh hồn của làng. Người Ba Na gọi một ngôi làng không có nhà rông là “làng đàn bà”, tức cũng gần như nói một cái làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là làng. Đó mới chỉ là một tập hợp rời rạc những cái nhà chưa có hồn, trong đó chứa những sinh linh cũng chưa có hồn, chưa thật sự là con người.

Nhà rông là nơi diễn ra toàn bộ đời sống cộng đồng làng, nơi dân làng tụ họp chuyện trò, tổ chức ca hát, chơi đùa; kể cho nhau nghe, truyền tai nhau những kinh nghiệm sống giữa chốn rừng núi, tổ chức lễ hội tưng bừng hay tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng thâm trầm… Đây cũng là nơi làng tiếp đãi khách, tức là ngôi nhà đại diện của làng giao tiếp với thế giới bên ngoài.

Nhà rông còn đặc biệt là nơi ngủ bắt buộc của tất cả thanh niên chưa có vợ trong làng, bởi họ là lực lượng trực chiến của làng, sẵn sàng bảo vệ làng chống lại mọi cuộc tiến công đến từ mọi phía. Vì vậy trong làng, nhà rông thường ở vị trí cao nhất, có thể phát hiện kẻ thù đến từ xa, là sở chỉ huy của các cuộc chiến đấu bảo vệ làng.

Nhà rông của người Ba Na thường cao vút, đồ sộ và bề thế, nhưng thanh thoát. Hình dáng lạ mắt tạo nên ấn tượng về sự hoành tráng và vẻ đẹp đặc trưng của nhà rông. Nóc nhà cao phổ biến khoảng 15 đến 20m, có kiến trúc hình chữ A, với đỉnh nóc được trang trí bằng một dải hoa văn độc đáo. Bốn mái nhà rông được lợp cỏ tranh. Hai mái chính rất lớn, được phủ bằng một tấm đan, trùm xuống nhiều hay ít tùy làng, có khi gần kín mái, trông đẹp hơn và lại có tác dụng bảo vệ mái nhà khi gió to. Hai mái đầu hồi hình tam giác cân.

Sàn nhà rông thường cao từ hơn 2m đến khoảng 3m, hình oval đã cắt bỏ hai đầu. Mặt sàn được chia dọc thành hai phần bằng nhau. Phía bên trong nhà rông được hình thành từ tám trụ gỗ lớn, với kiến trúc phổ biến là nhà ba gian; thường được trang trí công phu với những hoa văn và tác phẩm điêu khắc phức tạp. Cửa ra vào mở ở chính giữa mặt trước nhà, qua sàn sân rồi đến cầu thang.

Nhà rông được dân làng tạo dựng hoàn toàn bằng vật liệu tự kiếm được trong rừng, như gỗ, tre, nứa, dây rừng, cỏ tranh…, không hề có vật liệu kim khí. Công cụ làm nhà rông là những vật dụng đa năng như rìu, dao… với kỹ thuật không phức tạp, cũng không dùng bất kỳ loại máy móc nào ngoài sức người của tập thể trong làng.

Một thời kỳ dài, nhà rông bị mai một trầm trọng. Những năm gần đây, phong trào phục dựng nhà rông được chú trọng, với sự tổ chức và đầu tư của Nhà nước và do người dân thực hiện. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, nhà rông kiểu mới thường xuất hiện dưới dạng mái lợp tôn, sàn và vách thường làm bằng ván gỗ xẻ, nhiều nhà rông dựng bằng cột, xà bê-tông đúc, lắp cửa kính… Bởi vậy, việc dân làng dựng nhà rông kiểu cổ truyền được khích lệ, nhất là ở tỉnh Kon Tum. Nhiều ngôi nhà rông mái tranh được dựng lên, có nhiều làng chối bỏ kiểu nhà lợp tôn và tự trở lại với mái tranh quen thuộc.

Những nhà rông truyền thống đã và đang là điểm du lịch thu hút đông đảo du khách đến tìm hiểu, khám phá văn hóa, con người Ba Na.

Dù nhà rông nay có thể không đủ cao lớn và đẹp như xưa, nhưng người Ba Na vẫn tha thiết, tìm mọi cách giữ gìn nguyên bản kiến trúc nhà rông của mình. Bởi văn hóa Ba Na không thể thiếu vắng nhà rông.

Có thể bạn quan tâm

Công trình kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt nổi bật trong sương

Độc đáo kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt

Trường cao đẳng Đà Lạt được công nhận Di tích kiến trúc quốc gia năm 2001. Đây là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, hiếm có, được Hiệp hội Kiến trúc quốc tế (UIA) vinh danh là một trong 1.000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới trong thế kỷ XX.

Đồng bào dân tộc Ba Na tổ chức lễ hội truyền thống tại không gian nhà rông văn hóa làng Kon Rơ Bang 2.

Nhà rông - biểu tượng ở làng Kon Rơ Bang 2

Nhà rông là thiết chế văn hóa truyền thống quan trọng của các dân tộc thiểu số ở phía tây Quảng Ngãi, đồng thời là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và đời sống văn hóa.

Người phụ nữ Ê Đê bên bếp lửa ở gian cuối ngôi nhà dài trong giờ nấu ăn cho gia đình.

Dấu ấn mẫu hệ trong ngôi nhà dài Ê Đê

Với nét kiến trúc độc đáo, nhà dài từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng gắn liền với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và tâm linh của cộng đồng người Ê Đê ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên. Ngôi nhà dài không chỉ là nơi ở, mà còn là không gian gắn kết nhiều đời, mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ.

Ankroet là công trình thủy điện đầu tiên tại Việt Nam, nhà máy mang dáng dấp của biệt thự Pháp cổ.

Nhà máy thủy điện cổ nhất Việt Nam

Nằm giữa rừng thông xanh trên cao nguyên Lang Biang, bên hồ Đan Kia-Suối Vàng, thủy điện Ankroet (phường Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng) là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam.

Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí độc đáo của người Co tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian vùng Trường Sơn-Tây Nguyên.

Nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co

Ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, dân tộc Co cư trú lâu đời, có văn hóa rất riêng với lễ hội, những phương thức sinh hoạt, dấu ấn lịch sử. Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí của người Co độc đáo, tinh túy, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian ở khu vực Trường Sơn và vùng Tây Nguyên rộng lớn.

Tượng nhà mồ trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk.

Nghệ thuật tạc tượng nhà mồ ở Tây Nguyên

Tượng gỗ dân gian là một loại hình văn hóa độc đáo liên quan nhiều nghi lễ và lễ hội của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Xơ Đăng… ở Tây Nguyên. Trong đó, tượng nhà mồ là biểu tượng tâm linh đặc sắc, thể hiện tình thương, tấm lòng của người sống đối với người đã khuất.

Các thiếu niên người Ê Đê ở Đắk Lắk biểu diễn diễn tấu Ching kram.

Ching kram-nhạc cụ độc đáo của người Ê Đê

Ching kram (còn gọi là chiêng tre) là một loại nhạc cụ truyền thống độc đáo gắn liền với đời sống văn hóa của người Ê Đê. Nếu cồng chiêng tượng trưng cho sức mạnh, niềm vui và nghi lễ linh thiêng thì Ching kram lại mang âm sắc dịu dàng, mộc mạc, gần gũi, như một tiếng nói riêng của thiên nhiên và tâm hồn con người.

Nét độc đáo trong lễ cưới của người Dao đỏ là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.

Bảo tồn văn hóa Dao đỏ ở Tây Nguyên

Trong không gian văn hóa đa sắc của Lâm Đồng, đồng bào Dao đỏ vẫn kiên trì gìn giữ những nghi lễ truyền thống như một cách khẳng định cội nguồn. Từ phong tục cưới hỏi độc đáo đến lễ cấp sắc thiêng liêng, mỗi nghi thức vừa đánh dấu bước ngoặt đời người, vừa thể hiện sức sống bền bỉ của bản sắc dân tộc.

Nghi lễ cúng bến nước của người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng.

Mạch sống của buôn làng Mnông

Ban mai, khi đại ngàn nam Tây Nguyên thức giấc, suối Đạ Đòr tinh khiết mang dòng nước mát lành đến với những buôn làng người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng. Hôm nay, đồng bào Mnông tổ chức lễ cúng bến nước đầu nguồn, xin Yàng (thần) giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi.

Tháp Yang Prong (Thần lớn) hay còn được người dân địa phương gọi là tháp Chàm Rừng xanh nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk.

Huyền bí tháp Chàm giữa lòng Tây Nguyên

Tháp Yang Prong (Thần lớn) còn được gọi là tháp Chàm Rừng xanh, nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk là tháp Chàm duy nhất được tìm thấy còn nguyên vẹn trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ.

Điệu xoang vui tươi trong nhịp chiêng tại lễ cầu mùa của người M'Nông ở Lâm Đồng.

Lễ cầu mùa của người M’Nông

Tây Nguyên vào mùa khô, những chiếc lá pơ lang lả tả rơi nhường chỗ cho những chùm hoa đỏ rực, tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của mùa Xuân cao nguyên. Lễ cầu mùa (nhô ndah) của người M’Nông ở Lâm Đồng cũng diễn ra khi mùa vụ kết thúc, lúa đã đóng vào cót chất đầy trong kho.

Các nghệ nhân Cơ Ho ở xã Bảo Thuận, tỉnh Lâm Đồng trao truyền các làn điệu dân ca cho lớp trẻ.

Đi tìm điệu dân ca Cơ Ho

Muốn được hiểu thêm về dân ca của dân tộc Cơ Ho, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điền dã về các vùng có đông cư dân của tộc người này cư trú. Từ trò chuyện với các nhạc sĩ, nghệ nhân, chúng tôi đã tạm phân loại các lối hát của tộc người này.

 Người Mnông vui uống rượu cần trong lễ dạm ngõ.

Độc đáo lễ dạm ngõ của người Mnông Prâng

Người Mnông gồm nhiều nhóm địa phương, như Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Noong, Mnông Prâng, là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Nguyên. Với tín ngưỡng đa thần, từ khi sinh ra cho đến lúc về với thế giới bên kia, người Mnông trải qua nhiều nghi lễ, trong đó có lễ dạm ngõ, nghi lễ quan trọng phải tiến hành tốt đẹp mới được tổ chức lễ cưới.

Tiết mục biểu diễn của Công đoàn phường An Phú tham gia cuộc thi.

Hòa nhịp “Vũ điệu đại ngàn”

Cuộc thi “Công nhân Gia Lai hòa nhịp vũ điệu đại ngàn” vừa được phát động đã trở thành sân chơi văn hóa ý nghĩa, tạo sức lan tỏa rộng khắp. Qua những điệu múa dân gian, hình ảnh người công nhân hăng say lao động, gắn bó với truyền thống, khẳng định vai trò trong việc gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần của núi rừng đại ngàn.

Bếp lửa nhà dài-nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần của người Mạ.

Phát huy giá trị sử thi Tây Nguyên

Sử thi, được người Kinh gọi là trường ca, người Ê Đê gọi là khan, người Ba Na gọi là H'ăngmon, người Gia Rai gọi là H'Rih, người Mơ Nông gọi là Ốt nrông,... đã ăn sâu, sống và phát triển trong không gian sinh tồn nghìn đời của cư dân miền thượng, góp phần làm cho không gian ấy thêm kỳ vĩ.

Ché được sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của người Ê Đê.

Ché thiêng của người Ê Đê

Trong nhà sàn truyền thống của người Ê Đê giữa đại ngàn Tây Nguyên, ngoài các bộ chiêng quý là những chiếc ché với đủ kích thước, màu sắc và giá trị được đặt trang trọng sát vách nhà hay xếp hàng dài bên cây cột rượu, gắn liền với văn hóa uống rượu cần của người Ê Đê.

Nghệ nhân Ưu tú H’Grao đã có hơn 70 năm gắn bó với M’buốt. Bà còn thành thạo nhiều loại nhạc cụ dân tộc Mạ như: T’ron, t’rông, chiêng… và thuộc gần 100 bài dân ca.

Gìn giữ bản sắc dân tộc Mạ

Giữa nhịp sống hiện đại, cộng đồng người Mạ ở phía tây Lâm Đồng vẫn bền bỉ gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống. Trải qua bao thế hệ, âm thanh cồng chiêng, lời hát dân ca, hoa văn thổ cẩm cùng những phong tục, nghi lễ, tiếng nói, trang phục truyền thống được bảo tồn như cách họ giữ gìn linh hồn của dân tộc mình.

Thế hệ trẻ dân tộc Brâu với điệu chiêng Bơm pa rar.

Tiếng chiêng Bơm pa rar nơi ngã ba biên giới

tiếng chiêng Bơm pa rar (có nghĩa là mừng hội) của dân tộc Brâu tại làng Đắk Mế (xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi) ngân vang, mang theo khát vọng về mùa màng bội thu, cuộc sống thanh bình và tinh thần đoàn kết cộng đồng bền chặt.

Thiếu nữ Chu Ru với sản phẩm gốm truyền thống.

Độc đáo nghề gốm của người Chu Ru

Khi nhiều buôn làng ở Tây Nguyên từng bao đời du canh, du cư thì người Chu Ru làng Krăng Gọ, xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng chỉ ở dưới chân núi T'rôm Ụ. Loại đất đặc biệt, nguồn nước trong lành và những bàn tay tài hoa ở làng quê này đã góp phần tạo ra nghề thủ công truyền thống quý giá-nghề gốm.

Ngày hội trên cao nguyên Di Linh.

Độc đáo nghi lễ của người Cơ Ho Srê

Trên cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) điệp trùng đồi núi, người Cơ Ho Srê từ bao đời gắn bó với cây lúa nước. “Srê” nghĩa là ruộng, nên họ tự gọi mình là “cau Cơ Ho Srê” - người Cơ Ho làm ruộng nước. So với nhiều tộc người khác, người Cơ Ho Srê sớm biết dẫn nước từ suối về ruộng, khai mở nền văn minh lúa nước giữa lòng Tây Nguyên.

Già Siu Klah (giữa) và các thành viên Câu lạc bộ cồng chiêng làng Dek. (Ảnh ĐỒNG LAI)

Người kể chuyện cồng chiêng

Giữa những ngọn đồi trập trùng của xã Ia Hrú, tỉnh Gia Lai, có người đàn ông lặng lẽ nhưng bền bỉ gìn giữ một phần hồn cốt của văn hóa Tây Nguyên. Ông là già làng Siu Klah, người Jrai, sống tại làng Dek.

Ném còn thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán, lễ hội Xuân.

Biểu tượng văn hóa dân tộc Tày ở Tây Nguyên

Một trong những giá trị tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày tại xã biên giới Ia Đal, tỉnh Quảng Ngãi là trò chơi ném còn, (tiếng Tày gọi là "tung còn"), trò chơi dân gian truyền thống có từ lâu đời, phổ biến trong các lễ hội Xuân của người Tày, thể hiện ước vọng sinh sôi nảy nở, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Thiếu nữ Cơ Ho với gùi hoa truyền thống.

Gùi hoa - Biểu tượng văn hóa người Cơ Ho

“Đung đưa, đung đưa/Chiếc gùi đung đưa…”, âm điệu ca khúc H'Zen lên rẫy của nhạc sĩ Nguyễn Cường, khiến người nghe liên tưởng đến cô gái miền sơn cước duyên dáng cùng nhịp gùi mỗi sớm mai lên rẫy.

Chủ lễ thực hiện nghi thức tưới rượu cần lên cây Blang và các vật cúng tế trong Lễ Tăm Blang m’prang bon của người Mnông Pré, Nam Nung, Lâm Đồng.

Lễ Tăm Blang m’prang bon của người Mnông

Theo ấn định thời gian, cứ từ 3 đến 5 năm, đồng bào Mnông Pré ở xã Nam Nung (Lâm Đồng) lại cùng nhau tổ chức Lễ Tăm Blang m’prang bon (Lễ rào bon, trồng cây Blang) để cảm tạ thần Blang đã bảo vệ bon làng, đồng thời cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu.