Diễn đàn khoa học đánh giá toàn diện quan hệ Việt Nam-ASEAN

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN từ ngày 28/7/1995. Sự kiện lịch sử này không chỉ mở ra một chương mới đầy hứa hẹn cho sự phát triển của đất nước, mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác trong khu vực.

Hội thảo khoa học quốc tế nhân kỷ niệm 30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN.
Hội thảo khoa học quốc tế nhân kỷ niệm 30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN.

30 năm xây dựng cộng đồng và kiến tạo tương lai

Ngày 16/12, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Việt Nam-ASEAN: 30 năm xây dựng cộng đồng và kiến tạo tương lai”. Hội thảo được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 30 năm Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), với sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước, cơ quan ngoại giao và các tổ chức nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Hội thảo là diễn đàn khoa học nhằm trao đổi, thảo luận và đánh giá chặng đường ba thập kỷ Việt Nam tham gia ASEAN; làm rõ những kết quả đạt được và đóng góp của Việt Nam trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN; đồng thời nhận diện những vấn đề đặt ra và định hướng hợp tác trong bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều thay đổi.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, lợi ích bao trùm nhất khi Việt Nam gia nhập ASEAN là việc hình thành một môi trường khu vực hòa bình và ổn định, vốn là nền tảng thiết yếu cho bảo đảm an ninh và phát triển kinh tế-xã hội. Việc trở thành thành viên ASEAN giúp Việt Nam góp phần vào việc làm cho quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á dần được tái định hình theo hướng hữu nghị, ổn định và bền vững, dựa trên tinh thần hợp tác toàn diện trên cả bình diện song phương, trong khu vực và tại các diễn đàn đa phương.

a2.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo.

Về kinh tế, tham gia ASEAN mở ra một thị trường rộng lớn để thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng đầu tư và thúc đẩy hội nhập kinh tế. Việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) giúp Việt Nam thu hút vốn FDI và kỹ thuật hiện đại từ các công ty đa quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm. AEC cũng tạo nền tảng để Việt Nam mở rộng hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các đối tác lớn. Ngoài ra, hội nhập ASEAN còn góp phần cải cách thể chế kinh tế trong nước, hoàn thiện chính sách, pháp luật và giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội, ASEAN tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường giao lưu, trao đổi văn hóa và quảng bá văn hóa dân tộc ra bên ngoài. Hợp tác trong khuôn khổ Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC) giúp Việt Nam tăng cường giải quyết các vấn đề về môi trường, an sinh xã hội. Đặc biệt, người dân Việt Nam được hưởng lợi từ một môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, được tiếp cận hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn, cùng với nhiều cơ hội việc làm tại các nước thành viên ASEAN khác.

Trong suốt 30 năm qua, hành trình của Việt Nam trong ASEAN đã mang lại những dấu ấn nổi bật. Từ một quốc gia đang từng bước hội nhập, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, đóng góp vào sự phát triển chung của Cộng đồng ASEAN. Vai trò của Việt Nam trong ASEAN ngày càng được đánh giá cao nhờ vào sự đóng góp tích cực, hiệu quả trong nhiều lĩnh vực, cũng như sự ổn định chính trị, kinh tế và vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao.

Những đóng góp nổi bật của Việt Nam

30 năm qua, Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực vào cộng đồng ASEAN, như:

Thúc đẩy đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN: Việt Nam luôn kiên định với nguyên tắc đồng thuận và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình. Chúng ta đã tích cực tham gia và chủ trì nhiều sáng kiến nhằm củng cố đoàn kết nội khối, nâng cao năng lực ứng phó của ASEAN trước các thách thức khu vực và toàn cầu.

Đóng góp vào xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh: Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia vào quá trình xây dựng ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN: chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội. Chúng ta đã đóng góp vào việc hình thành Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và đang tích cực triển khai các kế hoạch tổng thể nhằm hiện thực hóa tầm nhìn đó.

a3.jpg
Ngài Dato’ Tan Yang Thai, Đại sứ Malaysia tại Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Chủ trì thành công nhiều hội nghị và sự kiện quan trọng: Việt Nam đã ba lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN vào các năm 1998, 2010 và 2020, cũng như chủ trì nhiều sự kiện quan trọng khác. Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình, đưa ra nhiều sáng kiến và thúc đẩy thành công các nghị trình hợp tác của ASEAN. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, góp phần cùng các nước ASEAN duy trì đoàn kết và ứng phó với khủng hoảng.

Tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế: Việt Nam đã đóng góp vào việc mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ đối ngoại của ASEAN với các đối tác bên ngoài, tham gia tích cực vào các cơ chế như ASEAN+3, EAS (Hội nghị Cấp cao Đông Á), ARF (Diễn đàn Khu vực ASEAN), ADMM+… thúc đẩy đối thoại và hợp tác trên nhiều lĩnh vực.

Đẩy mạnh kết nối và phát triển bền vững: Việt Nam tiếp tục thúc đẩy tăng cường kết nối khu vực về hạ tầng, kinh tế và giao lưu giữa con người, góp phần xây dựng một ASEAN thịnh vượng và phát triển bền vững. Việt Nam cũng tích cực chia sẻ kinh nghiệm, mở rộng hợp tác trong ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển xanh và bao trùm.

Khó khăn và thách thức

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi nhận định, những khó khăn thách thức khu vực ASEAN đang gặp phải trong thời kỳ hiện nay bao gồm:

Thứ nhất, là những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đe dọa đến hòa bình và ổn định, cũng như nguyên tắc đồng thuận và vai trò trung tâm của Hiệp hội.

Thứ hai, các thách thức nội khối đang cản trở tiến trình hợp tác và hội nhập trong ASEAN, thậm chí làm suy yếu vai trò trung tâm của khối trong một thế giới đang gia tăng biến động.

Thứ ba, là các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh mạng, thiên tai, dịch bệnh và sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ, đòi hỏi các nước thành viên phải tăng cường năng lực tự cường và khả năng thích ứng một cách linh hoạt.

Thứ tư, là yêu cầu cần thiết phải đổi mới mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ.

Trong bối cảnh mới, các xu hướng như chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo đang dần trở thành những động lực tăng trưởng quan trọng. ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2045 hướng tới một khu vực tự cường, năng động, sáng tạo, đoàn kết, lấy người dân làm trung tâm, và bao trùm, được thể hiện qua các mục tiêu chính như kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển bền vững và tăng cường kết nối khu vực.

Đứng trước những cơ hội và thách thức mới, Việt Nam đã tích cực thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, nhấn mạnh hội nhập toàn diện, sâu rộng dựa trên nội lực vững mạnh, không chỉ đơn thuần là mở cửa mà là chủ động đóng góp, xây dựng cho sự phát triển của khu vực và thế giới, với trọng tâm phát triển kinh tế đi đôi với khoa học-công nghệ, quốc phòng-an ninh và giữ vững bản sắc văn hóa, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, hướng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới; ưu tiên đối ngoại của Việt Nam thời gian tới là nỗ lực cùng ASEAN tiếp tục xây dựng một cộng đồng vững mạnh, đoàn kết, đóng góp vào hòa bình, ổn định và phồn vinh ở khu vực.

Bổ sung luận cứ khoa học tham mưu chính sách phát triển quan hệ Việt Nam-ASEAN

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cường, Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương trong phát biểu đề dẫn hội thảo nhấn mạnh: 30 năm qua, Việt Nam đã song hành và phát triển cùng ASEAN, từ một thành viên mới gia nhập, Việt Nam nhanh chóng khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm và chủ động trong mọi hoạt động của ASEAN.

a4.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương phát biểu đề dẫn tại hội thảo.

Việt Nam đã 3 lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN các năm 1998, 2010 và 2020, hoàn tất đàm phán nhiều hiệp định kinh tế then chốt như Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), tham gia xây dựng và triển khai Cộng đồng ASEAN trên ba trụ cột chính, đóng góp vào việc mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ đối ngoại của ASEAN với các đối tác bên ngoài... Đây là những minh chứng sinh động cho sự trưởng thành vượt bậc và dấu ấn kiến tạo của Việt Nam trong tiến trình liên kết khu vực.

Thông qua ASEAN, Việt Nam đã từng bước nâng cao vị thế quốc tế của mình. Từ một quốc gia đang trong giai đoạn đổi mới, Việt Nam đã trở thành một đối tác tin cậy, một điểm tựa của hợp tác và ổn định, và là thành viên tích cực định hình tương lai khu vực. Việt Nam luôn chủ động hội nhập, có tư duy chiến lược dài hạn và đóng góp thực chất cho các tiến trình khu vực từ kinh tế, an ninh đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Hội thảo tập trung vào 2 chủ đề chính. Phiên một với chủ đề: “30 năm Việt Nam-ASEAN: Thành tựu, thách thức và bài học kinh nghiệm”, nhìn lại chặng đường đã qua, đánh giá những đóng góp to lớn của Việt Nam đối với các trụ cột của Cộng đồng ASEAN, đồng thời chỉ ra những thách thức còn tồn tại và rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho tương lai. Đặc biệt, góc nhìn của chuyên gia nước ngoài giúp Việt Nam hiểu rõ hơn về uy tín, vai trò trung gian, khả năng thúc đẩy đối thoại của Việt Nam trong duy trì hòa bình và an ninh khu vực. Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta rút ra những bài học có giá trị cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Phiên hai với chủ đề “ASEAN 2045: Hướng tới một cộng đồng tự cường, kết nối và thích ứng”, các học giả đã thảo luận về triển vọng và định hướng phát triển của Cộng đồng ASEAN trong bối cảnh toàn cầu mới. Các tham luận làm rõ những động lực định hình một Cộng đồng ASEAN tự cường và kết nối, một cấu trúc hợp tác khu vực trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, biến động kinh tế và thách thức an ninh phi truyền thống.

Bên cạnh đó, các thảo luận cũng đi sâu phân tích vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển khu vực, đặc biệt gắn với Kế hoạch Hành động ASEAN về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2035 (APASTI 2026-2035), cho thấy khoa học-công nghệ đang trở thành động lực quan trọng nhất để ASEAN nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng của thời đại số.

Các phần thảo luận tiếp theo đi sâu vào các vấn đề cụ thể, bao gồm việc định vị vai trò của Việt Nam trong ASEAN đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, và Tầm nhìn hợp tác Việt Nam-ASEAN đến 2045, nhằm hướng tới một Cộng đồng vững mạnh, bao trùm và sáng tạo.

Các tham luận, ý kiến tại hội thảo sẽ bổ sung các luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ công tác nghiên cứu và tham mưu chính sách, đồng thời làm rõ vai trò và định hướng tham gia của Việt Nam trong hợp tác ASEAN, qua đó đóng góp vào tiến trình củng cố Cộng đồng ASEAN đoàn kết, tự cường và phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.