Di sản - Nguồn lực chiến lược cho tương lai (kỳ 2)

Kỳ 2: Quản trị di sản

Việc sân khấu hóa các nghi lễ truyền thống cần được thực hiện nghiêm cẩn, tôn trọng các giá trị đặc sắc của di sản. Ảnh: TÚ NHI
Việc sân khấu hóa các nghi lễ truyền thống cần được thực hiện nghiêm cẩn, tôn trọng các giá trị đặc sắc của di sản. Ảnh: TÚ NHI

(Tiếp theo và hết)

Khi di sản không chỉ được nhìn nhận như ký ức của quá khứ mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển, bài toán đặt ra không còn dừng ở câu chuyện khai thác thế nào cho hiệu quả, mà là quản trị ra sao để giá trị gốc không bị bào mòn trong quá trình sinh lợi. Di sản có thể tạo doanh thu, thu hút đầu tư, kích thích du lịch và dịch vụ; nhưng nếu thiếu tầm nhìn dài hạn và cơ chế kiểm soát khoa học, chính những lợi ích trước mắt ấy lại có thể làm tổn thương nền tảng tạo nên sức hấp dẫn của di sản.

Không thể “vắt kiệt” di sản cho lợi ích trước mắt

Những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của du lịch và kinh tế sáng tạo, nhiều di tích, danh thắng, lễ hội truyền thống trở thành điểm đến sôi động. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy những hệ lụy đáng lo ngại. Không ít di tích bị “trùng tu” theo hướng làm mới, sử dụng vật liệu hiện đại, can thiệp sâu vào cấu trúc nguyên gốc. Một số lễ hội bị thương mại hóa quá mức, nghiêng về biểu diễn, giải trí, xa rời giá trị cốt lõi của cộng đồng. Ở một số làng nghề, sản phẩm bị giản lược kỹ thuật và tinh thần truyền thống nhằm đáp ứng thị hiếu ngắn hạn, dẫn đến suy giảm bản sắc. Nhiều di sản đứng trước nguy cơ bị vượt quá giới hạn chịu tải. Mới đây, trong dịp Tết Bính Ngọ, tại Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), trước tình trạng lượng khách tăng đột biến vào ngày mồng 4 Tết (20/2), Ban Quản lý Di sản Tràng An (tỉnh Ninh Bình) ra thông báo về việc tạm dừng nhận thêm khách tham quan mới để bảo đảm an toàn và chất lượng trải nghiệm. Khi lượng khách gia tăng quá ngưỡng, việc cơ quan quản lý siết chặt kiểm soát là cần thiết.

TS Trần Hữu Sơn từng chỉ ra rằng, làm kinh tế di sản bền vững không bao giờ là “vắt kiệt” di sản để đổi lấy lợi nhuận ngắn hạn. Điều cốt lõi là xác lập quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, coi bảo tồn là nền tảng, là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Nếu bảo tồn bị xem nhẹ, mọi thành quả kinh tế đạt được chỉ mang tính nhất thời và phải trả giá bằng sự xuống cấp lâu dài.

TSKH, KTS Ngô Viết Nam Sơn, người có hơn 35 năm kinh nghiệm quốc tế về tư vấn thiết kế, quy hoạch kiến trúc cảnh báo một sai lầm chiến lược đang hiện hữu: Nhiều địa phương chỉ chú trọng bảo vệ từng công trình di tích đơn lẻ, mà thiếu giải pháp tổng thể cho khu trung tâm lịch sử và vùng cảnh quan chung quanh. Khi các công trình cao tầng, hạ tầng giao thông hoặc dự án thương mại mọc lên thiếu kiểm soát, di sản bị xâm phạm gián tiếp, làm suy giảm giá trị không gian và tính toàn vẹn, trong khi đây là yếu tố then chốt được quốc tế coi trọng trong công tác bảo tồn.

162.jpg
Cần lan tỏa rộng và sáng tạo giá trị hiện vật khảo cổ tại các di tích, bảo tàng thông qua nhiều hình thức mới, trong đó có công nghệ và mạng xã hội. Ảnh: HOÀNG HOA

Yêu cầu mới trong quản trị di sản

Thực tiễn đặt ra đòi hỏi chuyển từ tư duy ứng phó khi sự cố xảy ra sang tư duy phòng ngừa chủ động. Thay vì chờ đến khi di sản quá tải mới siết chặt hoặc “đóng cửa” đột ngột, các địa phương cần xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học về sức chứa của từng di tích, từng khu di sản; thường xuyên đánh giá tác động môi trường, xã hội; thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong kiểm soát lượng khách, đặt chỗ trực tuyến, phân luồng tham quan theo khung giờ, số hóa hồ sơ di tích… giúp nâng cao trải nghiệm, và trở thành công cụ quản trị hiệu quả. Nhiều quốc gia đã chứng minh rằng, minh bạch dữ liệu và quản lý theo bằng chứng khoa học giúp giảm xung đột giữa bảo tồn và khai thác, đồng thời tạo sự đồng thuận trong cộng đồng.

Định hướng lớn cho công tác quản trị đã được xác lập rõ trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước. Luật Di sản văn hóa 2024 khẳng định nguyên tắc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân; đồng thời yêu cầu lồng ghép bảo vệ di sản vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới tiếp tục nhấn mạnh lấy di sản văn hóa là trung tâm, coi tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững và sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản như một cấu phần của hệ sinh thái văn hóa. Tinh thần xuyên suốt của các văn bản đó là không tách rời bảo tồn với phát triển, không hy sinh văn hóa vì tăng trưởng đơn thuần. Di sản được nhìn nhận như nguồn lực chiến lược cho tương lai, nhưng là nguồn lực đặc biệt, không thể tái tạo nếu bị hủy hoại.

Trên cơ sở đó, yêu cầu đặt ra cho quản trị di sản trong giai đoạn mới là xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả kép: Vừa đo lường đóng góp kinh tế, vừa lượng hóa mức độ bảo tồn, sự tham gia và hài lòng của cộng đồng, tác động môi trường và giá trị văn hóa được duy trì. Không thể chỉ nhìn vào số lượt khách hay doanh thu. Song song, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn thu theo hướng tái đầu tư cho bảo tồn và nâng cao đời sống cộng đồng tại chỗ.

Kinh tế di sản là lĩnh vực giao thoa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Rủi ro không chỉ nằm ở sự xuống cấp vật chất của di tích hay biến dạng của lễ hội, mà còn ở sự suy giảm niềm tin xã hội và thương hiệu quốc gia được xây dựng từ chính di sản ấy. Một khi cấu trúc nguyên gốc bị phá vỡ hoặc giá trị tinh thần bị mai một, di sản không thể “tái sản xuất” như một sản phẩm thị trường thông thường. Chính vì vậy, quản trị di sản không phải lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu.

Cần sự vào cuộc đồng bộ

PGS, TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhấn mạnh bảo tồn và phát triển không phải hai mặt đối lập, mà là hai yếu tố cộng sinh vì mục tiêu bền vững. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa đang được hoàn thiện theo hướng tháo gỡ “điểm nghẽn”, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về đầu tư, xây dựng. Các quy định mới làm rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho ý kiến đối với dự án triển khai trong, ngoài khu vực bảo vệ di tích và vùng đệm di sản thế giới. Đặc biệt, trên cơ sở khuyến nghị của UNESCO và ICOMOS, cơ chế đánh giá tác động di sản đã được nội luật hóa. Quy định về đánh giá tác động đối với di sản thế giới trong Luật và các nghị định hướng dẫn yêu cầu mọi dự án đầu tư, khai thác tài nguyên trong khu vực di sản, vùng đệm phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ môi trường và kiểm soát yếu tố tác động theo chuẩn mực quốc tế. Đây là bước tiến quan trọng, đưa quản trị di sản của Việt Nam tiệm cận thông lệ toàn cầu. Cùng với hoàn thiện thể chế, chất lượng thẩm định quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được nâng cao; hoạt động kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật được tăng cường, kịp thời phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm di tích.

Ngày 25/3/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 1218/BVHTTDL-DSVH yêu cầu tăng cường quản lý di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh. Văn bản đề nghị các địa phương nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý và cộng đồng; kiểm soát chặt chẽ quy trình kiểm kê, xếp hạng; thực hiện nghiêm quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng khi triển khai dự án tu bổ, bất kể nguồn vốn nào. Những động thái này cho thấy quyết tâm siết chặt kỷ cương, đưa công tác quản trị di sản vào nền nếp.

Quản trị di sản, xét đến cùng, là quản trị mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Nếu thiếu cơ chế minh bạch và phân bổ công bằng, xung đột sẽ nảy sinh, làm suy yếu nền tảng xã hội của bảo tồn. Ngược lại, khi cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định, được hưởng lợi từ du lịch, dịch vụ gắn với di sản, họ sẽ trở thành “người bảo vệ” hiệu quả nhất. Trong hành trình hướng tới phát triển bền vững, di sản không chỉ là tài sản của quá khứ mà còn là vốn quý cho tương lai. Nhưng vốn quý ấy chỉ thật sự sinh lợi lâu dài khi được quản trị bằng trách nhiệm, tri thức và sự tôn trọng đối với giá trị nguyên gốc. Đó cũng là thước đo bản lĩnh văn hóa của một quốc gia đang phát triển trong hội nhập sâu rộng.

Di sản - Nguồn lực chiến lược cho tương lai (kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm

Phát triển Không gian tri thức số tại Huế

Phát triển Không gian tri thức số tại Huế

Hội Xuất bản Việt Nam, Công ty cổ phần Thư viện số Việt Nam và Ban Thường vụ Thành đoàn Huế vừa ký chương trình phối hợp “Phát triển văn hóa đọc và Không gian tri thức số tại thành phố Huế”.

Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh (1926-2017).

Nhớ cụ già bát thập bên bàn gỗ, soi kính lúp từng dòng chữ Hán Nôm

Lần đầu tôi gặp nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh vào hè năm 1993 khi ở Huế về nghỉ phép. Lần đó Tạp chí Hồng Lĩnh đăng bài của nhà văn Xuân Thiều viết về cha tôi và tôi đã đến nhà cụ để hỏi thêm một số thông tin về người cha quá cố của mình thời còn làm tuyên huấn tỉnh đội. Gặp cụ mới biết là đồng hương Đức Thọ, làng tôi và làng cụ chỉ cách nhau một cánh đồng. Bất ngờ nhất là bố tôi và cụ xưa từng học với nhau ở trường huyện, từng quen biết nhau từ thủa thiếu thời…

Nhiều ý nghĩa từ một cuốn sách về kiêng kỵ

Nhiều ý nghĩa từ một cuốn sách về kiêng kỵ

Trong đời sống tín ngưỡng dân gian, nếu nghi lễ là cách con người hướng tới thần linh bằng những hành động cụ thể, thì kiêng kỵ là việc con người tự đặt mình vào giới hạn trước cái thiêng. Bởi vậy, những điều “không được làm” tưởng nhỏ bé lại chứa đựng một tầng sâu văn hóa.

Các vị khách mời và thành viên Nhóm Ký họa đô thị Hà Nội trong buổi ra mắt cuốn sách “Hương vị phố cổ Hà Nội - Ký họa và tùy bút”.

Giữ hương vị phố trong ký ức Hà Nội

Nhân 10 năm Nhóm Ký họa đô thị Hà Nội, cuốn sách “Hương vị phố cổ Hà Nội - Ký họa và tùy bút” vừa ra mắt, gợi lại một Hà Nội gần gũi qua những món ăn bình dị, gánh hàng rong, góc phố quen thuộc và câu chuyện của những người nhiều năm gắn bó với phố.

Giáo dục tài chính cho trẻ bằng truyện tranh

Giáo dục tài chính cho trẻ bằng truyện tranh

ThS Lê Thị Thúy Sen, tác giả truyện tranh “Khéo khôn với tiền - Tránh những ưu phiền” (NXB Kim Đồng phát hành) vừa giao lưu với độc giả nhí tại TP Hồ Chí Minh. Bà đã có nhiều chia sẻ đầy thú vị về giáo dục tài chính cho thiếu nhi trong đời sống hằng ngày.

Từ âm nhạc, chắp cánh giấc mơ bay

Từ âm nhạc, chắp cánh giấc mơ bay

Lễ ra mắt mô hình thí điểm “Tuyến phố thông minh” trên trục Hàng Đào-Hàng Ngang-Hàng Đường-Đồng Xuân-Hàng Giấy đã diễn ra tối ngày 9/10, tại số 48 Hàng Ngang.

Rực rỡ những sắc màu tuổi thơ trong chương trình. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cùng con vui với nghệ thuật

Đưa con đến với chương trình “Chắp cánh tuổi thơ”, không ít phụ huynh gặp lại những điều quen thuộc: Những bài hát từ thời đi học, chiếc máy bay giấy, con thuyền nhỏ hay trò chơi ngày bé trở lại trong một không gian khác. Trẻ nhỏ háo hức trước những điều mới lạ, còn người lớn nhớ về quãng thời gian mình cũng từng vô tư như thế.

Giới thiệu về triển lãm “Bản thể giấy”.

“Bản thể giấy” giàu có thêm từ bản thể nghệ sĩ

Là phương tiện, giấy vàng son, giấy trầm sâu, giấy mịn màng qua tạo hình từ bàn tay họa sĩ. Thăm triển lãm “Bản thể giấy” đang mở tại B&C Maison d’Art, số 8 ngõ Thi Sách, phố Thi Sách (Hà Nội), người xem thấy được nhiều hơn từ cảm nhận chất liệu. Cũng như bỏ qua chính chất liệu để khám phá thế giới nghĩ của những tâm hồn đẹp.

Đoàn nhà văn Việt Nam làm việc với Hội Nhà văn Trung Quốc.

Qua trang văn, độc giả quốc tế hiểu hơn về tinh thần Việt

Tháng 8/2026, tác phẩm “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được dịch giả Nguyễn Lệ Chi giới thiệu thành công tới nhà xuất bản ở Trung Quốc. Đây là tác phẩm đầu tiên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh bước chân vào thị trường Hoa ngữ, kể từ sau các ấn bản dịch bằng tiếng Anh, Hàn, Thái, Nhật.

Lòng dũng cảm bắt đầu từ trái tim yêu thương

Lòng dũng cảm bắt đầu từ trái tim yêu thương

Truyện đồng thoại “Bọ ngựa hiệp sĩ một tay” (NXB Hà Nội, Nhã Nam phát hành tháng 9/2026) của nhà văn Uông Triều là một truyện dài trong một chuỗi các truyện đồng thoại của anh viết về xóm Hồ. Tiếp nối những câu chuyện thú vị từ “Vua ngan xóm hồ” (tác phẩm đã nhận giải thưởng Khát vọng Dế mèn lần 4, NXB Kim Đồng phát hành) lần này, độc giả lại tiếp tục được thưởng thức những mẩu chuyện ngộ nghĩnh, vui nhộn nơi xóm Hồ bé nhỏ thông qua một nhân vật ấn tượng khác: “Bọ ngựa - Hiệp sĩ một tay”.

Tác phẩm “Mắt cửa”, màu nước của họa sĩ Phan Anh Thư.

Hoài phố cảm tác

Sau thời gian lưu trú trong tháng 5 vừa qua để cảm nghiệm sâu sắc hơn nữa về vùng đất và con người Hội An (Đà Nẵng), bốn họa sĩ trẻ đang được chú ý của mỹ thuật đương đại Việt Nam đến từ Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh đã đưa hơn 20 tác phẩm màu nước, lụa và sơn dầu trở lại Hội An trong đợt 1 của triển lãm “Hoài phố cảm tác”. Sự kiện diễn ra từ ngày 11 đến 30/9. Đợt 2 của triển lãm sẽ tiếp nối từ ngày 9/10 đến 8/11, tại TP Hồ Chí Minh.

Những lễ hội và cơ duyên gặp gỡ

Những lễ hội và cơ duyên gặp gỡ

Sự kiện đáng kể cần điểm lại đầu tiên ở Thủ đô, trước Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội một ngày, và cùng kéo dài đến hết ngày chủ nhật vừa qua (từ 1 đến 4/10) là Hội sách Hà Nội lần thứ XI với chủ đề “Sách mở tri thức - Công nghệ dẫn tương lai”.

Các đại biểu tham quan trưng bày về nhà báo Huỳnh Thúc Kháng và Báo Tiếng Dân. Ảnh: SƠN HẢI

Biến địa chỉ báo chí cách mạng thành trung tâm sáng tạo

Hội thảo khoa học và Trưng bày chuyên đề kỷ niệm 150 năm ngày sinh nhà báo Huỳnh Thúc Kháng với chủ đề “Huỳnh Thúc Kháng - Từ Báo Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo” vừa diễn ra tại Thái Nguyên đã đón nhận nhiều gợi ý cho mô hình hoạt động của di tích quốc gia địa điểm Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng. Thời Nay xin trích một số ý kiến và kỳ vọng sớm đón nhận những bước hiện thực hóa từ sau hội thảo ý nghĩa này.

Cao ốc mới cần tôn trọng cảnh quan, bản sắc

Cao ốc mới cần tôn trọng cảnh quan, bản sắc

Xây dựng các tòa nhà phá vỡ kỷ lục trước đó về độ cao đang có dấu hiệu trở thành trào lưu tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đô thị hiện đại thật sự cần là những khối bê-tông đồ sộ, hay những không gian bền vững và lấy nhu cầu của con người làm gốc?

Phở Ngô Sapa. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bữa ăn sáng và lời nói thầm

Chuyến công tác vùng cao hôm ấy cực kỳ thuận lợi, chúng tôi xuất hành trở về Hà Nội sớm hơn dự kiến. Xe khởi hành khi đất và người Lào Cai còn chưa thức giấc. Miền đất vùng biên xa xôi còn ẩn mình trong bóng tối cứ lùi xa dần theo từng vòng quay của bánh xe.

Thế hệ trẻ tham gia sản xuất phim hoạt hình.

Cơ hội nào để hoạt hình Việt Nam vươn tầm quốc tế?

Trong bức tranh sôi động của công nghiệp sáng tạo toàn cầu, lĩnh vực hoạt hình đang ngày càng khẳng định vị thế về giá trị kinh tế, văn hóa và sức ảnh hưởng sâu rộng. Với hoạt hình Việt Nam, những chuyển động tích cực trong thời gian gần đây mang lại tín hiệu khả quan và cơ hội phát triển. Tuy nhiên, để thúc đẩy tiềm năng trở thành lợi thế văn hóa, năng lực cạnh tranh và từng bước xây dựng ngành công nghiệp hoạt hình đúng nghĩa, cần nhận diện, tháo gỡ nhiều điểm nghẽn.

Cảnh phim “Trạng Quỳnh thời nhí nhố”.

Chuyên nghiệp hơn mới có thể bứt phá

Bên cạnh câu chuyện phát triển ý tưởng và xây dựng những dự án nguyên bản, một điểm nghẽn khác của hoạt hình Việt Nam nằm ở mức độ chuyên nghiệp và khả năng vận hành của toàn ngành. Đây cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia quốc tế nhắc đến khi đánh giá triển vọng phát triển của các nền hoạt hình mới nổi.

Phim hoạt hình của nhiều nước Đông Nam Á được giới thiệu sinh động tại Liên hoan phim Annecy, Pháp.

Từ Annecy đến hướng đi mở cho hoạt hình Việt

Bên cạnh câu chuyện về tác phẩm xuất sắc, giải thưởng danh giá, hoạt động giao lưu chia sẻ…, bài học về khả năng liên tục tạo ra những ý tưởng, cơ hội mới là hướng đi mà hoạt hình Việt Nam cần bắt nhịp trong hành trình hội nhập quốc tế. Điều này có thể nhận ra qua Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy (Pháp). Năm nay, sự kiện quy tụ hơn 19 nghìn nhà làm phim, nhà sản xuất, nhà đầu tư, trường đào tạo và doanh nghiệp sáng tạo từ 120 quốc gia.

Khán giả khắp nơi trên thế giới đổ về cùng thưởng thức các tác phẩm mới ở Annecy, Pháp.

Mặc áo bản sắc để bước ra thế giới

Khi nhắc đến hoạt hình Việt Nam, yếu tố khiến nhiều đối tác quốc tế quan tâm chính là bản sắc văn hóa. Giữa hàng nghìn dự án từ khắp thế giới, lợi thế cạnh tranh không còn dừng lại ở khả năng sản xuất, làm chủ công nghệ, mà là nhận diện về bản sắc giữa bản đồ hoạt hình toàn cầu. Với kho tàng lịch sử, truyền thuyết, văn học dân gian, đời sống đương đại giàu sắc màu, Việt Nam đang sở hữu nguồn chất liệu sáng tạo dồi dào để hình thành những tác phẩm mang dấu ấn riêng. Điều quan trọng làm thế nào để chuyển hóa những giá trị văn hóa ấy thành các tác phẩm có sức sống nghệ thuật và thuyết phục được khán giả toàn cầu.