Để quản lý tín dụng bất động sản hiệu quả

Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) cho rằng, vấn đề của tín dụng bất động sản không đơn thuần nằm ở việc "siết" hay “mở” mà quan trọng hơn là dòng vốn được phân bổ vào đâu, phục vụ mục đích gì và đi kèm mức độ rủi ro nào.

Thanh khoản bất động sản đang có xu hướng giảm, đặc biệt tại các khu vực từng tăng trưởng “nóng”. (Ảnh: CTV)
Thanh khoản bất động sản đang có xu hướng giảm, đặc biệt tại các khu vực từng tăng trưởng “nóng”. (Ảnh: CTV)

Vốn cần được ưu tiên cho các dự án đủ pháp lý, có khả năng hoàn thành, tạo thêm nguồn cung nhà ở, đáp ứng nhu cầu thực và tạo tác động lan tỏa lớn trong khi dòng vốn phục vụ đầu cơ hoặc kéo dài những dự án không còn khả năng phục hồi cần được kiểm soát hợp lý. Nếu không phân biệt được các nhóm này, nới tín dụng có thể làm gia tăng rủi ro đối với ngân hàng; ngược lại, siết tín dụng đồng loạt có thể khiến những dự án đang thiếu vốn hoàn thiện trở thành tài sản dở dang và cuối cùng chuyển hóa thành nợ xấu.

Bất động sản có tính liên thông cao với nền kinh tế thông qua nhiều bảng cân đối tài sản và dòng tiền: từ giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản tín dụng ngân hàng, tài sản lớn của hộ gia đình, dòng vốn trái phiếu, tiền ứng trước của người mua đến hoạt động của chuỗi xây dựng, vật liệu và nội thất. Vì vậy, điều đáng quan tâm không chỉ là một nhịp điều chỉnh giá bất động sản, mà là tình trạng dự án đình trệ kéo dài, không phân định được dự án nào còn khả năng phục hồi, cũng như rủi ro và tổn thất cuối cùng sẽ được phân bổ cho chủ thể nào.

Thực tế, tín dụng bất động sản có cơ cấu rất đa dạng, từ tín dụng phục vụ nhu cầu nhà ở, mua và nhận chuyển nhượng bất động sản đến tín dụng phát triển, kinh doanh dự án và các hoạt động đầu tư, kinh doanh khác. Các nhóm tín dụng này có đặc điểm khác nhau về mục đích sử dụng vốn, dòng tiền, khả năng trả nợ và mức độ rủi ro.

VARS IRE cho rằng, việc giảm mức độ đòn bẩy của doanh nghiệp bất động sản và hạn chế sự tập trung tín dụng quá lớn vào lĩnh vực này có mục tiêu nhằm quản trị rủi ro. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất lớn vào thời điểm, lộ trình và cách thức triển khai, đặc biệt đối với một thị trường phụ thuộc đáng kể vào hoạt động bán nhà hình thành trong tương lai.

Trong mô hình này, doanh nghiệp thường sử dụng dòng tiền từ người mua để tiếp tục triển khai dự án, đồng thời phụ thuộc vào khả năng tiếp cận tín dụng và tái cấp vốn. Khi tín dụng bị thu hẹp đột ngột, doanh nghiệp có thể thiếu hụt dòng tiền để hoàn thành dự án và thực hiện các nghĩa vụ tài chính. Khi đó, vấn đề thanh khoản không còn dừng ở doanh nghiệp mà có thể nhanh chóng chuyển thành vấn đề niềm tin của người mua, nhà đầu tư và các chủ thể cung cấp vốn, từ đó làm gia tăng rủi ro lan truyền trong toàn thị trường.

Người mua lo ngại dự án không được bàn giao nên giảm mua hoặc ngừng thanh toán. Chủ đầu tư mất dòng tiền từ bán hàng, công trường chậm lại và niềm tin tiếp tục suy giảm. Khi doanh số giảm, khả năng tiếp cận tín dụng cũng giảm theo, tạo thành vòng xoáy giữa thanh khoản, tiến độ dự án và niềm tin thị trường.

Bắt đầu phân tầng tín dụng nhưng cần thêm cơ chế nhận diện rủi ro

Từ năm 2023 đến nay, chính sách tín dụng và xử lý thị trường bất động sản của Việt Nam đã từng bước chuyển từ tháo gỡ thanh khoản sang định hướng dòng vốn có mục tiêu. Giai đoạn đầu tập trung ngăn chặn vòng xoáy pháp lý-trái phiếu-tín dụng thông qua Nghị quyết 33/NQ-CP, Nghị định 08/2023/NĐ-CP và các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Sau đó, dòng vốn được định hướng cụ thể hơn vào nhà ở xã hội, người trẻ mua nhà, các dự án có tính khả thi và những lĩnh vực được xác định là ưu tiên. Đây là hướng đi phù hợp bởi khó khăn của thị trường bất động sản hiện nay không chỉ nằm ở thiếu vốn, mà còn liên quan đồng thời đến pháp lý dự án, chi phí đất, cơ cấu sản phẩm, khả năng hấp thụ và niềm tin của người mua.

Chương trình tín dụng nhà ở xã hội là một minh chứng. Chương trình có quy mô 145.000 tỷ đồng từ 9 ngân hàng thương mại, nhưng đến cuối tháng 5/2026, Kết quả giải ngân lũy kế mới đạt khoảng 12.440 tỷ đồng. Khoảng cách lớn giữa nguồn vốn được bố trí và lượng vốn thực tế giải ngân cho thấy vấn đề của thị trường không đơn giản là thiếu tiền.

Tuy nhiên, dữ liệu giữa ngân hàng, doanh nghiệp, dự án và người mua vẫn còn phân mảnh. Khả năng nhận diện sớm một dự án có nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng chưa đủ rõ. Nếu không cải thiện được khâu này, chính sách “ưu tiên tín dụng” có nguy cơ trở thành cơ chế phân bổ vốn mang tính hành chính thay vì một công cụ quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu. Nếu dự án chưa đủ pháp lý, giá bán không phù hợp, sản phẩm không đúng nhu cầu hoặc người mua không đủ khả năng trả nợ và đặc biệt thủ tục còn rắc rối, nhiều rào cản thì lãi suất ưu đãi không đủ để tạo ra cầu bền vững. Tín dụng chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng một dự án có khả năng triển khai, thủ tục thông thoáng và người vay có khả năng trả nợ. Nói cách khác, tín dụng có thể tạo thêm sức mua và hỗ trợ thanh khoản, nhưng không thể thay thế nhu cầu thực và khả năng hấp thụ của thị trường.

Việt Nam vẫn có dư địa để chủ động nhận diện và phòng ngừa rủi ro từ sớm. Hệ thống pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản đang được hoàn thiện đồng bộ hơn, trong khi hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản từng bước được xây dựng.

Việc phân loại nhằm nhận diện đúng mức độ rủi ro và định hướng dòng vốn cùng quyết định cho vay vẫn thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của từng ngân hàng.

Cần mở đúng chỗ, khóa đúng rủi ro

VARS IRE cho rằng, điều cần thay đổi trong giai đoạn tới là tư duy quản lý tín dụng. Thay vì coi bất động sản là một lĩnh vực có mức độ rủi ro đồng nhất và áp dụng một cơ chế kiểm soát chung, chính sách cần chuyển sang đánh giá rủi ro theo người vay, tài sản, mục đích sử dụng vốn và khả năng trả nợ.

Thứ nhất, phân loại dự án để định hướng dòng vốn. Chính phủ có thể giao Bộ Xây dựng phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, địa phương và Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu cơ chế đánh giá, phân loại dự án theo khả năng triển khai và phục hồi.

VARS IRE đề xuất có thể nghiên cứu ba nhóm:

Nhóm A: Dự án đủ pháp lý, có khả năng hoàn thành, có tác động lan tỏa lớn và chủ yếu thiếu vốn để tiếp tục triển khai.

Nhóm B: Dự án còn khả năng phục hồi nhưng cần cơ cấu lại, như bổ sung vốn chủ sở hữu, điều chỉnh phương án kinh doanh hoặc cơ cấu lại nghĩa vụ nợ.

Nhóm C: Dự án không còn khả năng phục hồi, cần chuyển nhượng, thanh lý hoặc xử lý theo quy định.

Thứ tư, từng bước đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn cho thị trường bất động sản. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu phát triển các nguồn vốn ngoài tín dụng ngân hàng như trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư bất động sản và các sản phẩm tài chính phù hợp.

Tuy nhiên, việc mở rộng các kênh vốn phải đi cùng yêu cầu về minh bạch thông tin, định giá độc lập và quản trị rủi ro. Không nên tạo thêm một kênh huy động nếu cuối cùng rủi ro vẫn quay trở lại ngân hàng hoặc ngân sách.

Thứ năm, mọi chính sách ưu tiên tín dụng cần có tiêu chí, thời hạn và cơ chế hậu kiểm rõ ràng. Hiệu quả chính sách cần được đánh giá không chỉ qua số vốn cam kết và giải ngân, mà cả số dự án được hoàn thành, số căn nhà được đưa vào sử dụng, số người dân tiếp cận được vốn và chất lượng tín dụng sau hỗ trợ. Trong giai đoạn trước mắt, có thể tập trung hoàn thiện dữ liệu và thí điểm phân loại dự án; việc mở rộng các cơ chế mới cần dựa trên kết quả thực tế và khả năng kiểm soát rủi ro.

Thứ sáu, chuyển từ kiểm soát theo lĩnh vực sang đánh giá theo người vay và tài sản. Ngân hàng Nhà nước cần từng bước tăng cường các tiêu chí như tỷ lệ dư nợ trên giá trị tài sản bảo đảm, tổng nghĩa vụ nợ và khả năng trả nợ của người vay. Người mua nhà lần đầu, nhà ở xã hội, nhà ở vừa túi tiền và tài sản tạo dòng tiền cần được tiếp cận tín dụng phù hợp hơn. Việc phân tầng cần dựa trên dữ liệu thực tế về người vay và tài sản, thay vì chủ yếu dựa vào tên gọi sản phẩm.

Thứ bảy, Ngân hàng Nhà nước cần thường xuyên kiểm tra khả năng chịu đựng của các ngân hàng trước các kịch bản như giá bất động sản giảm, dự án chậm bàn giao, trái phiếu đáo hạn hoặc giá trị tài sản bảo đảm suy giảm. Kết quả đánh giá cần gắn với các biện pháp phù hợp như tăng dự phòng, bổ sung vốn hoặc kiểm soát tốc độ tăng tín dụng đối với ngân hàng có mức độ tập trung rủi ro cao. Cơ cấu lại nợ chỉ nên là giải pháp có thời hạn đối với các khoản vay còn khả năng phục hồi; những khoản vay không còn khả năng thu hồi cần được nhận diện và xử lý theo quy định.

VARS IRE cho rằng, việc kiểm soát tín dụng theo cách cào bằng sẽ làm mất đi động lực tăng trưởng bền vững cho thị trường bất động sản - vốn đang trong giai đoạn phân hóa ngày càng cao giữa dự án đáp ứng nhu cầu thực và các dự án treo để huy động vốn của người mua. Do đó, tín dụng bất động sản cần tập trung tái cấp vốn cho các dự án có đủ điều kiện, an toàn về pháp lý để thúc đẩy thị trường hồi phục, tránh gây ra các hệ lụy về thanh khoản, niềm tin, nợ xấu cũng như tăng trưởng kinh tế.

Tín dụng bất động sản chỉ thực sự phát huy vai trò đối với tăng trưởng khi dòng vốn được phân bổ đúng vào các dự án có khả năng triển khai, tạo ra nguồn cung nhà ở và dòng tiền đủ để trả nợ. Vì thế, yêu cầu đặt ra không phải là mở rộng hay thu hẹp tín dụng một cách cơ học, mà là nâng cao chất lượng phân bổ vốn, bảo đảm dòng vốn đến đúng dự án, đúng nhu cầu và phù hợp với khả năng hấp thụ của thị trường. Song song với đó, cần kiểm soát mức độ tập trung tín dụng và khả năng trả nợ để bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, hạn chế tích tụ rủi ro và ngăn ngừa rủi ro từ thị trường bất động sản lan truyền sang hệ thống tài chính.

Có thể bạn quan tâm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm. (Ảnh: DUY LINH)

Linh hoạt điều hành tiền tệ, nâng cao khả năng tiếp cận vốn

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn khẳng định sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt các công cụ tiền tệ, kiểm soát tín dụng, mặt bằng lãi suất và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, trên nguyên tắc bảo đảm an toàn hệ thống và khả năng thu hồi vốn vay.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn thành phố Đồng Nai) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyển hóa nguồn lực thành động lực tăng trưởng hai con số

Các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp khơi thông nguồn vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư, phát huy các động lực tăng trưởng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027 gắn với chất lượng, tính bền vững và đời sống người dân.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 31/10: Vàng miếng SJC giảm mạnh, về mốc 139 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (31/10) giảm xuống mức 3.874,4 USD/ounce trong bối cảnh căng thẳng tại eo biển Hormuz leo thang, đẩy giá dầu tăng cao. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC giảm mạnh theo xu hướng đi xuống của thị trường thế giới, niêm yết lần lượt ở mức 139 triệu đồng/lượng và 135,8 triệu đồng/lượng.

Phối cảnh một dự án chung cư tại khu vực Bình Dương của Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: QUANG QUÝ)

Thị trường bất động sản cạnh tranh bằng giá trị thực

Thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn thanh lọc đặt ra yêu cầu tái cấu trúc về tư duy lẫn năng lực cạnh tranh. Khi những lợi thế như quỹ đất, vị trí không còn đủ bảo đảm thành công, giá trị thực, chất lượng, thích ứng và sự liên kết chuỗi cung ứng sẽ trở thành những yếu tố quyết định sức bền của thị trường.

Triển khai Nghị quyết 27: Quan tâm đặc thù, lợi thế từng vùng, chú trọng dự án có hiệu quả kết nối

Triển khai Nghị quyết 27: Quan tâm đặc thù, lợi thế từng vùng, chú trọng dự án có hiệu quả kết nối

Phát biểu ý kiến tại nghị trường, đại biểu Quốc hội đề nghị trong quá trình triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW, Chính phủ tiếp tục quan tâm đến đặc thù, vai trò và lợi thế của từng vùng, lựa chọn những nhiệm vụ ưu tiên phù hợp, trong đó chú trọng các dự án thực sự cần thiết, có hiệu quả kết nối và phù hợp với nguồn lực.

Doanh nghiệp FDI tạo lực kéo nâng cao năng lực chuỗi cung ứng

Doanh nghiệp FDI tạo lực kéo nâng cao năng lực chuỗi cung ứng

Với Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng FDI đến năm 2030, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc mở rộng số lượng nhà cung cấp, mà còn là nâng cao năng lực để doanh nghiệp Việt đảm nhận những công việc có giá trị cao hơn.

Lễ cắt băng khánh thành nhà máy Spectre Hưng Yên 2, dấu ấn quan trọng trong hợp tác kinh tế song phương giữa Việt Nam và Vương quốc Đan Mạch. (Ảnh: MINH DUY)

Ứng dụng AI và phát triển xanh vào lĩnh vực may mặc

Sự kiện khánh thành nhà máy may mặc công nghệ cao Spectre Hưng Yên 2 trị giá 30 triệu USD đánh dấu sự phát triển mới của tập đoàn may mặc Đan Mạch tại Việt Nam, đồng thời thể hiện bước đi cụ thể hóa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vừa được nâng cấp giữa hai quốc gia.

Thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp trên cánh đồng tại Tây Ninh, hướng tới nâng cao tỷ lệ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh. Ảnh: TTXVN

Ngành trồng trọt “bứt tốc” về đích

Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Mạnh cho biết, tính đến đầu tháng 10, cả nước đã gieo cấy được hơn 1,86 triệu ha lúa hè thu (đạt 97,7% kế hoạch).

Các trang, thiết bị máy móc hiện đại được đầu tư kéo theo đó là yêu cầu về bảo đảm nguồn cung điện.

Mở không gian cho năng lượng mới

Ngành điện hiện nay cần bảo đảm đủ điện sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành lưới điện, khả năng dự phòng và hiện đại hóa phương thức vận hành. Về dài hạn, việc hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo được kỳ vọng mở ra không gian phát triển mới cho ngành năng lượng.

Khu nhà lưu trú công nhân Thiên Phúc, một trong những khu nhà ở xã hội thuê mua, thuê đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: MINH THÀNH).

Đồng bộ giải pháp để giảm giá nhà ở

Thời gian qua, thị trường bất động sản có nhiều dấu hiệu tích cực, ổn định, nhất là phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, giá nhà từ đó cũng dần hạ nhiệt. Tuy nhiên, người dân vẫn mong đợi những chính sách thông thoáng, đồng bộ hơn để có thể tăng cơ hội tiếp cận nhà ở, hạn chế đầu cơ bất động sản.

Bài 2: Đột phá hạ tầng kết nối, tạo sức bật cho liên kết vùng

Bài 2: Đột phá hạ tầng kết nối, tạo sức bật cho liên kết vùng

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng liên kết, bổ trợ và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Trong đó, phát triển hạ tầng giao thông hiện đại, đồng bộ, kết nối đa phương thức được xác định là một trong những đột phá quan trọng.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất duy trì ổn định hoạt động sản xuất để cung ứng nguồn nhiên liệu ra thị trường. (Ảnh: HOÀNG ANH)

Đáp ứng nguồn cung nhiên liệu cho thị trường

Trước nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng do xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông, ngành dầu khí chủ động gia tăng sản lượng khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Thời gian tới, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng hoạt động thương mại, tìm nguồn hàng quốc tế để bảo đảm nguồn cung ứng trên thị trường.

Xã Phú Nghĩa tổ chức livestream quảng bá sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề. (Ảnh: KIM THOA)

Xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, kết hợp chuyển đổi số trong quảng bá, tiêu thụ sản phẩm là hướng đi mà một số xã của Thủ đô Hà Nội đang triển khai nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế nông thôn, cải thiện thu nhập cho người dân và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững.

Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. (Ảnh: DUY LINH)

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực

Thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội, các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tháo gỡ những vướng mắc trong thực thi, rút ngắn thời gian và chi phí tuân thủ, qua đó khơi thông nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Trần Phước Hiền làm việc với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Xốp. (Ảnh ĐÔNG HUYỀN)

Xúc tiến đầu tư vào xã vùng sâu tỉnh Quảng Ngãi

Để thúc đẩy các địa phương khai thác lợi thế, thu hút đầu tư, ngày 30/10, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Trần Phước Hiền đã làm việc với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Xốp tìm giải pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư trên địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Các ý kiến tham luận tại diễn đàn đều có chung nhận định, việc kiểm soát chặt dòng tiền, cơ cấu lại nguồn vốn và chủ động xây dựng phương án ứng phó là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro. (Ảnh: BTC)

Chủ động quản trị rủi ro, tạo sức bật cho doanh nghiệp

Biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng đang làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh, gây sức ép lên dòng tiền và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó, việc kiểm soát chặt dòng tiền, cơ cấu lại nguồn vốn và chủ động xây dựng phương án ứng phó là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro.

Phiên thảo luận “Sản xuất tiên tiến: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt”, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026.

Sản xuất tiên tiến mở đường cho hàng xuất khẩu Việt Nam bứt phá

Việt Nam đang khẳng định vị thế là mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, cùng với quy mô xuất khẩu ngày càng lớn, bài toán nâng cao giá trị gia tăng nội địa và vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.