Để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt hiệu quả cao

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta liên tục đưa ra những chính sách tạo động lực cho doanh nghiệp, doanh nhân vượt qua giai đoạn khó khăn. Song, trên thực tế, có lúc có nơi vẫn để xảy ra tình trạng chính sách chưa tới, chưa đúng, chưa trúng; nhất là với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn hoặc đứng trên bờ vực phá sản do chưa tiếp cận được các chính sách vì vướng phải một số bất cập trong quá trình triển khai thực tiễn.
Kỹ sư vận hành Nhà máy xử lý nước thải tập trung , Khu Công nghiệp Nam Cầu Kiền, Hải Phòng. ( Ảnh: KHÁNH AN)
Kỹ sư vận hành Nhà máy xử lý nước thải tập trung , Khu Công nghiệp Nam Cầu Kiền, Hải Phòng. ( Ảnh: KHÁNH AN)

Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước cần tiếp tục có những giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả việc đưa chính sách hỗ trợ tới gần hơn với doanh nghiệp. Có như vậy, chính sách đi vào thực tiễn nhanh hơn, thực chất hơn, có hiệu quả hơn, tạo ra trợ lực mới, giúp mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp vẫn kêu khó

Hiện nay, Việt Nam có khoảng gần 900 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, tuy nhiên có tới 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cho thấy, dù khu vực doanh nghiệp đông về số lượng, nhưng quy mô và tiềm lực không mạnh, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.

Theo báo cáo mới đây của Tổng cục Thống kê, trong 2 tháng đầu năm 2024, cả nước có 41,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng gần 900 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, tuy nhiên có tới 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cho thấy, dù khu vực doanh nghiệp đông về số lượng, nhưng quy mô và tiềm lực không mạnh, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.

Nhưng cũng có tới 63 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 1 tháng có gần 31,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Những con số này cho thấy, mặc dù doanh nghiệp đã có xu hướng phục hồi, nhưng thời kỳ khó khăn của các doanh nghiệp vẫn tiếp diễn. Với những khó khăn còn hiện hữu, mục tiêu đạt 1,5 triệu doanh nghiệp vào năm 2025 sẽ vẫn còn là thách thức.

Trong một khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ, vốn,… Có những chính sách hỗ trợ quan trọng nhằm hỗ trợ phục hồi nền kinh tế đã được ban hành như: Nghị quyết 43 của Quốc hội, Nghị quyết 11 của Chính phủ được đánh giá có chất lượng rất tốt, nhưng hiện tỷ lệ giải ngân còn chậm, mới đạt 38-40%. Điều này thể hiện chúng ta rất vướng trong quá trình triển khai, thực hiện các dự án đầu tư công vì để đầu tư công phải đưa vào quy hoạch, chuẩn bị hồ sơ giấy tờ… mất rất nhiều thời gian.

Mặt khác, phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp cho thấy, khó khăn lớn nhất trong giai đoạn hiện nay là thiếu hụt dòng vốn khi việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng đang bị hạn chế. Theo VCCI, có tới 47% doanh nghiệp cho biết rất khó tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại, trong đó 4% doanh nghiệp phải huy động vốn từ các nguồn tín dụng khác do không đáp ứng các điều kiện đi kèm. Phần lớn doanh nghiệp đều mong muốn được tiếp cận nguồn tín dụng chất lượng cao với mức chi phí thấp từ các ngân hàng thương mại.

Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Lê Tiến Trường cho biết, đối với chính sách lãi suất và tín dụng ở các quốc gia hiện nay rất ưu đãi cho ngành dệt may, khi lãi suất cho vay chỉ ở mức 3,5%. Còn tại Việt Nam, mức vay trung bình khoảng 7% với doanh nghiệp tốt và khoảng 9% đối với doanh nghiệp xấu.

Với Vinatex, lãi suất phải trả cho các ngân hàng năm 2023 tăng 10% so với năm 2022, trong khi tổng dư nợ giảm 11%. Điều đó có nghĩa so với năm 2022, giá vốn năm 2023 đắt hơn. Chưa kể, nếu so với năm 2021 có hỗ trợ từ chính sách trong bối cảnh Covid-19, lãi phải trả tăng 30%. Các hợp đồng tín dụng Vinatex đang có trong tháng 1, 2/2024 đến giờ cũng chưa cho thấy được tổng lãi phải trả năm 2024 sẽ thấp hơn năm 2023. Bên cạnh đó, việc tiếp cận vốn của ngành sản xuất nguyên liệu cho dệt may cũng khó khăn không kém do tất cả các ngân hàng đều giảm hạn mức cho vay với công ty sợi, hoặc yêu cầu có tài sản bảo đảm 100% với khoản vay ngắn hạn năm 2024. Nếu năm 2023 tính chung giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản vay chỉ khoảng 20%, thì năm nay yêu cầu phải 100% hoặc áp dụng chính sách trả được 10 cũng chỉ được vay lại 8 hoặc 9 phần.

Do đó, nếu không có sự hỗ trợ của ngân hàng, chỉ đạo của Chính phủ và các bộ, ngành trong việc không giảm hạn mức tín dụng và không yêu cầu tài sản bảo đảm cố định, để duy trì được sản xuất thì chúng ta có thể mất đi ngành sợi.

Đổi mới chính sách hỗ trợ

Ngay trong ngày đầu năm 2024, Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết 02/NQ-CP được ban hành trở lại sau 1 năm gộp vào Nghị quyết 01/NQ-CP đang làm tăng sức nóng cải cách và thực thi hiệu quả Nghị quyết là điều cộng đồng doanh nghiệp mong chờ.

Theo đó, với sự chỉ đạo thường xuyên, liên tục của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽ tạo áp lực thúc đẩy quá trình cải cách của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương. Từ đó, các hoạt động đối thoại doanh nghiệp, lắng nghe tiếng nói từ cộng đồng doanh nghiệp nhằm nắm bắt, tiếp thu những kiến nghị, phản hồi sẽ được thực hiện thường xuyên hơn. Qua đó, có những hành động kịp thời, cụ thể và quyết liệt trong giải quyết khó khăn thực tế doanh nghiệp đang gặp phải, đặc biệt là vướng mắc về chính sách.

Thực tiễn cho thấy, cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước đi rất nhanh vào đời sống, có hiệu lực ngay với các doanh nghiệp, như chính sách tài khóa, giãn, giảm thuế. Theo một khảo sát do VCCI thực hiện với doanh nghiệp trong 2 năm qua cho thấy, nhóm chính sách giảm thuế đến được với doanh nghiệp nhiều nhất.

Do đó, chúng ta nên xem đây chính là kinh nghiệm cho những lần hỗ trợ tiếp theo, bởi việc giảm thuế đến được ngay với doanh nghiệp, có hiệu lực ngay, không cần phải thực thi, số đông doanh nghiệp được hưởng và công bằng. Nhưng có một số chính sách trễ hơn nên hiệu quả không cao như: hỗ trợ công nhân về nhà ở, chương trình “Sóng và máy tính cho em” trong chương trình hỗ trợ phục hồi Covid-19,…

Mặt khác, cũng có tình trạng thiết kế chính sách rồi, nhưng mất 6-7 tháng sau mới có nghị định để triển khai thực hiện, khi đó tính hiệu quả đã giảm sút do thời điểm cần hỗ trợ nhất đã qua. Vì vậy, trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, các giải pháp hỗ trợ cần tiến hành đồng bộ ở nhiều ngành, nhiều cấp hơn nữa. Bên cạnh đó, việc đề ra chính sách là một chuyện, nhưng việc thúc đẩy thực hiện các chính sách hỗ trợ lại là một giải pháp cần được ưu tiên.

Phó Chủ tịch VCCI Nguyễn Quang Vinh cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp đang rất khó khăn, nhiều ngành hàng suy giảm chưa có dấu hiệu phục hồi. Do đó, để thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế, cần chú trọng các động lực tăng trưởng truyền thống và phát huy, khai thác các động lực tăng trưởng mới, Chính phủ cần rà soát, đổi mới chính sách trong hỗ trợ doanh nghiệp phát triển để phù hợp thực tiễn. Giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động để tái thiết hoạt động sản xuất, kinh doanh, nắm bắt cơ hội phục hồi và phát triển sau đại dịch.

Đồng thời, cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách giảm thuế, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, có các giải pháp giảm chi phí cho doanh nghiệp, tăng cường khả năng tiếp cận các gói hỗ trợ của Nhà nước. Các bộ, ngành, địa phương phải mạnh mẽ hơn trong cắt giảm điều kiện, chi phí kinh doanh, thúc đẩy đầu tư công; có các biện pháp để tháo gỡ những vướng mắc trong điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp để các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi thực sự phát huy hiệu quả.

Bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ về điều hành chính sách vĩ mô, cộng đồng doanh nghiệp cần trang bị tâm thế sẵn sàng, chủ động ứng phó với khó khăn, thách thức, linh hoạt, sáng tạo và nhạy bén nắm bắt cơ hội để phục hồi, bứt phá trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động sản xuất tại Công ty TNHH thép Hòa Phát, khu công nghiệp Phố Nối A, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên có thêm 179 dự án đầu tư mới

6 tháng đầu năm, tỉnh Hưng Yên đã thu hút 179 dự án đầu tư mới; trong đó, có 141 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 46.372 tỷ đồng và 38 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký hơn 652 triệu USD.

Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết đến nay bộ này đã cơ bản hoàn thành việc rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ mô hình mới. (Ảnh: KHƯƠNG TRUNG)

Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân cấp tối đa cho địa phương sau một năm vận hành mô hình chính quyền 3 cấp

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền 3 cấp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao tối đa nhiệm vụ cho địa phương; đồng thời tinh gọn bộ máy, cắt giảm mạnh thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế phục vụ mô hình tổ chức mới.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức vận hành, hình thành nền tảng dữ liệu thống nhất trên phạm vi cả nước.

Xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất cho nông nghiệp

Từ ngày 1/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào vận hành trên phạm vi toàn quốc, tạo nền tảng dữ liệu thống nhất, minh bạch chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực quản lý chất lượng và thúc đẩy xuất khẩu nông sản.

Nhân viên đăng kiểm thực hiện nhiệm vụ theo Thông tư 30/2026/TT-BXD.

Ngày đầu đăng kiểm theo Thông tư 30, lấy người dân làm trung tâm phục vụ

Từ ngày 1/7, Thông tư 30/2026/TT-BXD chính thức có hiệu lực, thúc đẩy chuyển đổi số, cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực đăng kiểm. Dù bước đầu phát sinh một số trục trặc kỹ thuật, các cơ quan chức năng đang khẩn trương khắc phục, hướng tới xây dựng quy trình minh bạch, thuận tiện và hiệu quả hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 1/7: Cổ phiếu tài chính, công nghệ dẫn sóng, VN-Index nối dài đà tăng

Phiên giao dịch ngày 1/7, sắc xanh chiếm ưu thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dù áp lực chốt lời xuất hiện ở một số cổ phiếu vốn hóa lớn, sự bứt phá của nhóm ngân hàng, chứng khoán và công nghệ đã giúp thị trường giữ được nhịp tăng đến cuối phiên. Chốt phiên, VN-Index tăng 7,2 điểm, lên mức 1.867,21 điểm.

Các nhà máy điện của EVNGENCO1 được vận hành an toàn, ổn định, góp phần bảo đảm cung ứng điện cho hệ thống điện quốc gia trong 6 tháng đầu năm 2026.

EVNGENCO1 giữ vững vận hành an toàn, bảo đảm cung ứng điện

Trong 6 tháng đầu năm 2026, với việc triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý kỹ thuật, điều hành sản xuất, Tổng Công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã bảo đảm nhiên liệu và sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, góp phần cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam bảo đảm cung ứng điện cho phát triển kinh tế-xã hội.

Kỳ họp Hội đồng lần thứ 147/148 của Tổ chức Hải quan Thế giới quy tụ lãnh đạo 187 cơ quan hải quan thành viên.

Dấu ấn Hải quan Việt Nam tại diễn đàn hải quan lớn nhất thế giới

Những kết quả đạt được tại Kỳ họp Hội đồng lần thứ 147/148 của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) tiếp tục khẳng định vai trò chủ động của Hải quan Việt Nam trong hợp tác quốc tế, đồng thời tạo thêm động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hải quan và tăng cường kết nối với các đối tác.

Nhiều mô hình thanh long sản xuất đang hướng tới giảm phát thải.

Lâm Đồng định vị thương hiệu “Bản giao hưởng xanh”

Ngày 1/7, Tỉnh ủy Lâm Đồng thông tin, tỉnh vừa ban hành quyết định Đề án Bộ nhận diện thương hiệu của tỉnh, giữ vai trò công cụ định hướng, điều phối và quản trị hình ảnh địa phương theo hướng thống nhất, chuyên nghiệp; thích ứng kịp thời với xu thế truyền thông số và hội nhập quốc tế.

Nhằm chia sẻ lợi ích với hành khách trong bối cảnh giá nhiên liệu trong nước liên tục giảm, ngành đường sắt sẽ thực hiện giảm 10% giá vé đối với các đoàn tàu khách bắc-nam trong thời gian từ ngày 1/7 đến hết ngày 16/8/2026.

Giảm 10% giá vé tàu khách bắc-nam từ ngày 1/7/2026

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho biết, nhằm chia sẻ lợi ích với hành khách khi thực tế thị trường giá nhiên liệu trong nước liên tục giảm, ngành đường sắt thực hiện giảm 10% giá vé đối với các đoàn tàu khách bắc-nam trong thời gian từ ngày 1/7 đến hết ngày 16/8/2026.

Hội thảo khoa học “Văn hóa và kinh tế sáng tạo - Động lực phát triển trong kỷ nguyên mới”.

Định hình mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế sáng tạo trong kỷ nguyên số

Các ngành công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên tài sản văn hóa đã và đang trở thành xu hướng phát triển mang tính thời đại. Nhiều nhà khoa học cho rằng, phát triển kinh tế sáng tạo cũng chính là phương thức hữu hiệu để tái đầu tư, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.