Cứu hộ tê tê: Hướng mở cho bảo tồn chủ động và phát triển bền vững

Cứu hộ tê tê: Hướng mở cho bảo tồn chủ động và phát triển bền vững

Trong bối cảnh nhiều loài động vật hoang dã của Việt Nam đang đối diện nguy cơ tuyệt chủng chưa từng có, Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê do Trung tâm Bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam triển khai từ năm 2014 đã trở thành một trường hợp điển hình về cách tiếp cận bảo tồn bài bản, nghiêm túc và có tính chiến lược dài hạn.

Không chỉ cứu hộ, chăm sóc hay tái thả, dự án Cứu hộ và Bảo tồn Tê tê đã kiến tạo một hệ sinh thái bảo tồn theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học, cộng đồng và chính sách. Đây là mô hình được nhiều chuyên gia nhận định có thể trở thành “hình mẫu” cho bảo tồn các loài nguy cấp khác tại Việt Nam cũng như trong khu vực.

fc-20230315-0008.jpg
Tê tê là nhóm động vật có vú bị buôn bán trái phép nhiều nhất thế giới. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Từ cứu hộ đến thay đổi hành vi xã hội

Tê tê là nhóm động vật có vú bị buôn bán trái phép nhiều nhất thế giới. Hai loài tê tê bản địa của Việt Nam là tê tê Java và tê tê vàng đều được xếp vào mức “Cực kỳ nguy cấp” trong Danh lục Đỏ IUCN.

Việc săn bắt, vận chuyển và tiêu thụ bất hợp pháp kéo dài nhiều năm đã khiến quần thể suy giảm nghiêm trọng, nhiều khu vực không còn ghi nhận dấu vết của tê tê trong tự nhiên.

tete1.png
Hai loài tê tê bản địa của Việt Nam là tê tê Java và tê tê vàng đều được xếp vào mức “Cực kỳ nguy cấp” trong Danh lục Đỏ IUCN.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đặng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật): “Tê tê là loài sống đơn độc, thường hoạt động vào ban đêm, tốc độ sinh sản thấp và rất nhạy cảm với tác động của con người. Một khi quần thể tụt xuống dưới ngưỡng sinh học tối thiểu, khả năng phục hồi tự nhiên gần như bằng không nếu không có giải pháp bảo tồn chủ động”.

Tê tê là loài sống đơn độc, thường hoạt động vào ban đêm, tốc độ sinh sản thấp và rất nhạy cảm với tác động của con người. Một khi quần thể tụt xuống dưới ngưỡng sinh học tối thiểu, khả năng phục hồi tự nhiên gần như bằng không nếu không có giải pháp bảo tồn chủ động.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đặng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)

Trước khi Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê do Trung tâm Bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW) hình thành mô hình cứu hộ chuyên biệt, Việt Nam thiếu cơ sở hạ tầng đạt chuẩn để tiếp nhận, chăm sóc và tái thả tê tê theo quy trình khoa học. Tỷ lệ tử vong cao, thiếu dữ liệu nghiên cứu, cùng với việc thả động vật vào rừng không giám sát khiến hiệu quả bảo tồn rất hạn chế. Trong bối cảnh đó, Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê ra đời, đáp ứng một nhu cầu cấp bách của bảo tồn quốc gia.

Điểm đặc sắc của dự án nằm ở chiến lược bảo tồn tổng thể, bao gồm sáu trụ cột liên kết chặt chẽ: cứu hộ-chăm sóc-phục hồi; tái thả và giám sát; nghiên cứu khoa học; bảo vệ sinh cảnh; truyền thông - thay đổi hành vi; và vận động chính sách. Đây là cách tiếp cận hiếm gặp trong các mô hình bảo tồn trước đây tại Việt Nam.

2022-dec-rescue-6-sunda-pangolins-nghe-an-34.jpg
Quy trình chăm sóc tại đây được tiêu chuẩn hóa theo cách tiếp cận liên ngành “One Health”, kết hợp thú y-sinh thái-môi trường-phúc lợi động vật. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Các trung tâm cứu hộ tại Vườn quốc gia Cúc Phương và Vườn quốc gia Pù Mát là hạt nhân của chương trình. Quy trình chăm sóc tại đây được tiêu chuẩn hóa theo cách tiếp cận liên ngành “One Health”, kết hợp thú y-sinh thái-môi trường-phúc lợi động vật.

Các cá thể được tiếp nhận trải qua kiểm tra sức khỏe, điều trị, phục hồi thể trạng và đặc biệt là phục hồi tập tính tự nhiên, yếu tố quyết định khả năng thích nghi khi quay lại môi trường rừng.

Tính đến nay, hơn 1.782 cá thể tê tê đã được cứu hộ; trên 1.100 cá thể được tái thả thành công. Tỷ lệ sống và phục hồi hơn 80%, được đánh giá là mức “hiếm gặp” trên thế giới.

Nhiều chuyên gia quốc tế, trong đó có Giáo sư Anna Nekaris (Đại học Oxford Brookes, Vương quốc Anh), đánh giá: “Việt Nam là một trong số ít quốc gia xây dựng được mô hình cứu hộ tê tê tiệm cận chuẩn quốc tế. Thành công này có giá trị tham chiếu lớn đối với khu vực Đông Nam Á”.

he-thong-den-suoi-duoc-bo-tri-de-giu-am-cho-te-te.jpg
Hệ thống đèn sưởi được bố trí để giữ ấm cho tê tê. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Khác với cách tiếp cận truyền thống chỉ thả cá thể về rừng, SVW triển khai giám sát dài hạn bằng thiết bị sóng vô tuyến VHF, Wildlife Drones và hệ thống bẫy ảnh. Nhờ ứng dụng công nghệ, dự án thu thập lượng lớn dữ liệu về hành vi, phạm vi di chuyển và khả năng thích nghi của tê tê sau tái thả.

Hơn 175 lượt xuất hiện tê tê đã được bẫy ảnh ghi nhận tại các khu vực tái thả, bằng chứng khoa học xác nhận loài không chỉ sống sót mà quần thể đang dần phục hồi trong tự nhiên.

Từ thực tiễn cứu hộ, dự án xây dựng bộ dữ liệu quan trọng về sinh thái, dinh dưỡng và hành vi tê tê, nhóm dữ liệu từng rất khan hiếm.

Tiến sĩ Hoàng Văn Hải (chuyên gia động vật hoang dã) nhấn mạnh:“Không có dữ liệu khoa học, bảo tồn chỉ là phỏng đoán. Dự án của SVW đã lấp đầy khoảng trống quan trọng trong nghiên cứu tê tê, tạo nền tảng cho bảo tồn dựa trên bằng chứng”.

Từ tri thức này, các quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa thành tài liệu mở, giúp các trung tâm cứu hộ trên cả nước nâng cao năng lực.

anh-man-hinh-2025-12-02-luc-224413.png

Cùng với tái thả, SVW phối hợp kiểm lâm tăng cường tuần tra, tháo gỡ hơn 37.000 bẫy thú và thu giữ 188 khẩu súng săn trong khu vực bảo vệ. Đây là yếu tố thiết yếu để hạn chế nguy cơ tái săn bắt - nguyên nhân từng khiến nhiều cá thể tái thả bị mất dấu.

Buôn bán và tiêu thụ sản phẩm từ tê tê là động lực cốt lõi của nạn săn bắt. Vì vậy, dự án tiến hành khảo sát xã hội học trên hơn 8.000 người tại 15 tỉnh, phân tích động lực tiêu thụ. Trên cơ sở dữ liệu này, các chiến dịch truyền thông toàn diện được triển khai tại cộng đồng, trường học, doanh nghiệp.

Một kết quả quan trọng trong nỗ lực góp ý và xây dựng chính sách là xu hướng siết chặt và loại bỏ dần việc sử dụng vảy tê tê trong danh mục dược liệu chính thức.

Dự án đã thúc đẩy sự hình thành của Mạng lưới Cứu hộ động vật hoang dã Việt Nam (WRN), tạo cơ chế liên kết giữa các trung tâm cứu hộ toàn quốc. Bên cạnh đó, việc chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực, tổ chức hội thảo, hướng dẫn trực tuyến giúp lan tỏa mô hình một cách bài bản.

Tiến sĩ Vũ Cẩm Tú (chuyên gia chính sách môi trường) đánh giá: “Mô hình này thể hiện rõ triết lý: bảo tồn không chỉ là công việc của một tổ chức mà là nhiệm vụ của toàn xã hội. Sự kết hợp giữa khoa học, cộng đồng và chính sách tạo ra hiệu ứng lan tỏa bền vững”.

z7270128710403-8abc621ddf4447861d8ead2ef28bf3b9.jpg
Tê tê được tái thả về tự nhiên. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Cứu cá thể - Cứu hệ sinh thái

Với hơn 1.100 cá thể được tái thả thành công, Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê không chỉ đem lại cơ hội sống cho từng cá thể riêng lẻ, mà còn góp phần khôi phục quần thể tê tê hoang dã, một mắt xích quan trọng trong cấu trúc sinh thái rừng. Tê tê là loài kiểm soát tự nhiên quần thể mối và kiến, giúp duy trì chất lượng đất và cân bằng hệ sinh thái. Việc phục hồi loài này vì thế mang ý nghĩa trực tiếp đối với sức khỏe lâu dài của các vườn quốc gia và hệ sinh thái rừng nhiệt đới.

Song hành với hoạt động cứu hộ-tái thả, các chiến dịch truyền thông và vận động chính sách đã góp phần giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từ tê tê trong một bộ phận cộng đồng, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, dự án từng bước xây dựng được “bộ khung” nền tảng cho bảo tồn hiện đại tại Việt Nam: bộ quy chuẩn kỹ thuật cứu hộ - tái thả; hệ thống dữ liệu mở phục vụ ra quyết định; đội ngũ nhân lực chuyên môn được liên kết và bồi dưỡng thường xuyên; cùng hệ thống công nghệ giám sát tiên tiến như định vị, bẫy ảnh, trí tuệ nhân tạo. Trên cơ sở đó, một cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý, vườn quốc gia, tổ chức xã hội và đối tác quốc tế ngày càng định hình rõ nét.

Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Nhật (Hội đồng Quốc gia về Đa dạng sinh học) đánh giá: “SVW đang góp phần hình thành một chuẩn mực mới cho bảo tồn ở Việt Nam - chuẩn mực được xây dựng trên khoa học, quản trị tốt và bằng chứng thực tế”.

SVW đang góp phần hình thành một chuẩn mực mới cho bảo tồn ở Việt Nam - chuẩn mực được xây dựng trên khoa học, quản trị tốt và bằng chứng thực tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Nhật (Hội đồng Quốc gia về Đa dạng sinh học)

Những nền tảng này mở ra triển vọng để Việt Nam tiếp tục phát triển các mô hình bảo tồn chủ động đối với nhiều loài đặc hữu khác như voọc, vượn, cầy vằn hay gấu ngựa.

Theo chuyên gia bảo tồn Lê Văn Lanh, dù đạt những kết quả đáng ghi nhận, Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê vẫn đang đứng trước nhiều thách thức không thể xem nhẹ. Trước hết, áp lực săn bắt và buôn bán trái phép tiếp tục diễn biến tinh vi, với các đường dây xuyên quốc gia liên tục thay đổi phương thức hoạt động, buộc lực lượng chức năng và các tổ chức bảo tồn phải liên tục nâng cao năng lực giám sát và ứng phó. Bên cạnh đó, công tác tái thả và giám sát dài hạn đòi hỏi nguồn nhân lực chuyên môn và tài chính ổn định, yếu tố vốn luôn thiếu bền vững trong lĩnh vực bảo tồn.

hinh-anh-te-te-tu-do-buoc-vao-khu-rung-hoang-da-2.jpg
Hình ảnh tê tê tự do bước vào khu rừng hoang dã. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Một thách thức khác đến từ nhận thức xã hội, khi quan niệm sai lệch về giá trị y học của vảy tê tê hay thói quen tiêu thụ thịt rừng vẫn tồn tại trong một bộ phận cộng đồng. Cùng với đó là những biến động sinh thái như mất rừng, suy giảm sinh cảnh, xung đột giữa con người và động vật hoang dã, tiếp tục đe dọa khả năng phục hồi của tê tê trong tự nhiên.

Ông Lê Văn Lanh nhấn mạnh: “Những dự án như thế này chỉ có thể thành công khi có sự đồng hành bền bỉ của Nhà nước, giới khoa học, đối tác quốc tế và cộng đồng địa phương. Bảo tồn là một cuộc đua đường dài, chứ không phải một chiến dịch ngắn hạn”.

Chương trình Cứu hộ và Bảo tồn tê tê của SVW chứng minh Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng mô hình bảo tồn đạt chuẩn quốc tế, dựa trên khoa học, quản trị tốt và sự tham gia của cộng đồng. Thành công không chỉ được đo bằng số cá thể cứu hộ mà còn bằng việc hình thành một hệ thống bảo tồn hiện đại và bền vững, có khả năng mở rộng sang nhiều loài khác.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và yêu cầu phát triển bền vững đặt ra cao hơn, những mô hình như SVW cần tiếp tục được củng cố, hỗ trợ và mở rộng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành bảo tồn mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội, nhằm gìn giữ những giá trị thiên nhiên quý giá cho các thế hệ tương lai.

dua-te-te-den-truong-voi-cac-em-hoc-sinh-mam-non-vung-dem-vqg-cuc-phuong.jpg
Giáo dục bảo tồn tê tê tại trường học. (Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (SVW))

Có thể bạn quan tâm

Tác động do El Nino gây ra ảnh hưởng không nhỏ lên hoạt động sản xuất nông nghiệp, gây ra nguy cơ về an ninh lương thực. (Ảnh: Tân Hoa Xã)

El Nino làm gia tăng nguy cơ thời tiết cực đoan

Nhà chức trách Nam Phi kêu gọi người dân đặc biệt lưu ý đến các cảnh báo thời tiết chính thức và khẩn trương có biện pháp dự phòng, trong bối cảnh hiện tượng khí hậu El Nino đang làm gia tăng nguy cơ nắng nóng cực đoan, thiếu hụt nguồn nước, mất mùa và cháy rừng trên diện rộng.

Hồ Sông Chò 1 nằm trên địa bàn các xã Trung Khánh Vĩnh, Bắc Khánh Vĩnh và Nam Ninh Hòa, có dung tích 110 triệu m3 (lớn thứ hai toàn tỉnh Khánh Hòa), phát huy hiệu quả vai trò giữ nước cho sản xuất, đời sống, góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa chủ động giữ an toàn hồ đập mùa mưa lũ

Mùa mưa lũ năm 2026 đang đến gần. Khi những trận mưa lớn có thể làm mực nước hồ dâng nhanh, gia tăng áp lực lên công trình và vùng hạ du, Khánh Hòa đang chủ động rà soát, gia cố hồ đập, hoàn thiện phương án vận hành, với mục tiêu kiểm soát rủi ro từ sớm, bảo vệ an toàn công trình và tính mạng, tài sản người dân.

Lực lượng bộ đội hỗ trợ đắp đê bao ngăn nước khu dân cư ven sông Bùi. (Ảnh: TTXVN)

Cảnh báo lũ trên các sông ở Bắc Bộ và Thanh Hóa; mưa lớn từ Nghệ An đến thành phố Huế

Hiện nay, lũ ở hạ lưu sông Hoàng Long, sông Đáy (Ninh Bình), sông Bưởi (Thanh Hóa) xuống chậm và ở trên mức báo động 3, lũ hạ lưu sông Mã (Thanh Hóa) đang biến đổi chậm và ở trên mức báo động 1. Ngoài ra, cơ quan khí tượng cũng dự báo, ngày và đêm nay (19/9) từ Nghệ An đến thành phố Huế sẽ có mưa lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam phát biểu khai mạc. (Ảnh: TTXVN)

Chia sẻ kinh nghiệm bảo vệ đa dạng sinh học biển

Ngày 18/9, Đối thoại Biển lần thứ 15 với chủ đề “Từ thỏa thuận đến hành động: Triển khai Hiệp định BBNJ vì quản trị biển công bằng, hiệu quả” do Học viện Ngoại giao cùng Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông, Quỹ Konrad-Adenauer-Stiftung và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam đồng tổ chức đã diễn ra tại Hà Nội.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Tam Hợp và Ban Chỉ huy quân sự xã Tam Thái, tỉnh Nghệ An, đưa cơm cho học sinh điểm trường bán trú bị mưa lũ chia cắt. (Ảnh: TRUNG HIẾU)

Mưa lũ làm 3 người chết, hơn 16.000 nhà bị ngập

Theo thông tin từ trực ban các tỉnh, thành phố Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An, tính đến 17 giờ ngày 17/9, mưa lớn, ngập lụt đã làm 3 người chết, hơn 16.000 nhà bị ngập và gây thiệt hại trên 22.000ha lúa, hoa màu, rau màu.

Quang cảnh tại hội thảo khoa học. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Tìm giải pháp nâng cao khả năng chống chịu vùng ven biển Cà Mau

Ngày 17/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Các giải pháp nạo vét, tận dụng vật liệu để gây bồi, phục hồi vùng bãi, phát triển rừng ngập mặn ven biển và giải pháp chuyển nước tạo nguồn nhằm tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển tỉnh Cà Mau”.