Từ chuẩn hóa học liệu đến cơ hội học tập bình đẳng
Không chỉ chuyển đổi văn bản in sang chữ nổi, dự thảo Thông tư quy định yêu cầu kỹ thuật, tiêu chí đánh giá và quy trình chuyển đổi sách giáo khoa sang bản in chữ nổi Braille, được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đưa ra lấy ý kiến trong tháng 10/2026, hướng tới bảo đảm tính tương đương về nội dung học tập và chất lượng sử dụng thực tế. Lần đầu tiên, toàn bộ quy trình từ đánh giá sách giáo khoa gốc, chuyển đổi nội dung, hình ảnh, sơ đồ đến in ấn, nghiệm thu, lưu trữ và cung cấp học liệu được đề xuất chuẩn hóa trong một văn bản thống nhất.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở những yêu cầu kỹ thuật. Với học sinh khiếm thị, một sơ đồ khoa học, biểu đồ hay hình minh họa không thể đơn thuần được lược bỏ khi chuyển đổi sách. Việc sử dụng hình nổi, mô tả thay thế phù hợp, nhằm bảo đảm các em tiếp cận được nội dung kiến thức như những học sinh khác. Quan trọng hơn, quy trình đánh giá và nghiệm thu được đề xuất sẽ tạo cơ sở kiểm soát chất lượng học liệu, thay vì chỉ chú trọng việc có đủ sách chữ nổi.
Dự thảo nằm trong tiến trình hoàn thiện chính sách giáo dục dành cho người khuyết tật. Trước đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành các quy định về tổ chức, hoạt động của trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; đồng thời phối hợp các tổ chức quốc tế triển khai nhiều chương trình phát triển học liệu, nâng cao năng lực giáo viên.
Điển hình, dự án Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh khiếm thính cấp tiểu học thông qua ngôn ngữ ký hiệu (QIPEDC), do Bộ GD&ĐT làm chủ dự án với nguồn tài trợ thông qua Ngân hàng Thế giới, đã xây dựng 4.000 từ vựng ngôn ngữ ký hiệu và 150 bài học video cốt lõi về Toán, Tiếng Việt. Sau giai đoạn triển khai tại 20 tỉnh, thành phố, học liệu của dự án đã được Bộ cho phép sử dụng trên phạm vi toàn quốc.
Từ sách chữ nổi, học liệu ngôn ngữ ký hiệu đến sách giáo khoa điện tử, những chương trình này đang từng bước mở rộng lựa chọn học tập cho học sinh khuyết tật. Thay vì chỉ có một hình thức truyền tải kiến thức, các em có thêm công cụ phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình. Song, học liệu mới chỉ là một trong những điều kiện để giáo dục hòa nhập phát huy hiệu quả.
Khi nhà trường thay đổi để đón nhận sự khác biệt
Tại chương trình tập huấn giáo dục hòa nhập do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp Sở GD&ĐT Cần Thơ và Hội Người mù Việt Nam tổ chức tháng 8 vừa qua, TS Tạ Ngọc Trí, Phó Vụ trưởng Giáo dục phổ thông Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh: “Giáo dục hòa nhập không đơn thuần là tiếp nhận trẻ khuyết tật vào trường học, mà phải xây dựng môi trường để các em được hỗ trợ, học tập và phát triển hết tiềm năng”.
Đáng chú ý, các cuộc thảo luận tại chương trình chuyển trọng tâm từ việc xác định “Trẻ không thể làm gì?” sang xem xét “Nhà trường có thể thay đổi điều gì?”.
Trong một lớp học hòa nhập, nhu cầu hỗ trợ của học sinh khiếm thị, khiếm thính, tự kỷ hay khuyết tật trí tuệ không giống nhau. Học sinh khiếm thị cần học liệu và phương tiện tiếp cận thông tin phù hợp; học sinh khiếm thính có thể cần ngôn ngữ ký hiệu hoặc phương tiện giao tiếp hỗ trợ; trong khi một số học sinh tự kỷ, khuyết tật trí tuệ cần điều chỉnh hoạt động học tập, cách giao tiếp và phương pháp đánh giá. Nếu vẫn áp dụng một phương pháp giảng dạy đồng nhất, việc học chung trong một lớp vẫn chưa chắc đã mang lại cơ hội học tập tương đương.
Tuy nhiên, từ những mô hình thí điểm đến khả năng triển khai rộng rãi vẫn tồn tại những khoảng cách lớn. Học liệu chuyên biệt đòi hỏi kinh phí chuyển đổi, thẩm định, sản xuất và cập nhật thường xuyên. Giáo viên cần được bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập, đồng thời có thời gian và sự hỗ trợ chuyên môn để điều chỉnh bài giảng, xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân. Những yêu cầu này khó có thể đáp ứng, nếu chỉ trông chờ vào nỗ lực riêng của từng giáo viên hoặc nguồn lực từ các dự án ngắn hạn.
Đặc biệt, việc đánh giá chất lượng giáo dục hòa nhập cần vượt ra ngoài những chỉ tiêu về số học sinh khuyết tật được tiếp nhận, mà hướng tới khả năng tham gia hoạt động học tập, sự tiến bộ và mức độ phát triển của từng em.
ThS Đinh Việt Anh, Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà trường, giáo viên, phụ huynh, các cơ sở giáo dục chuyên biệt và tổ chức của người khuyết tật. Điều này cần được cụ thể hóa bằng những cơ chế hỗ trợ thường xuyên, giúp nhu cầu của học sinh được nhận diện và giải quyết kịp thời, thay vì chỉ can thiệp khi phát sinh khó khăn.