Cơ hội khôi phục Di sản Nghề làm tranh Đông Hồ

Được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp là cơ hội để khôi phục lại nghề làm tranh Đông Hồ, khi người có tay nghề cao và tâm huyết theo đuổi nghề ngày càng ít và nhu cầu tiêu thụ tranh rất thấp do những thay đổi của thị hiếu và thị trường.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đang làm Tranh dân gian Đông Hồ.
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đang làm Tranh dân gian Đông Hồ.

Ngày 9/12, tại tại Thủ đô New Delhi, Ấn Độ (tức 16 giờ 8 phút, giờ Hà Nội), Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, đã thông qua Quyết định ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Nhắc đến nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, là người Việt nhớ đến bầu không khí Tết, đến chợ quê, đến những nét sinh hoạt văn hóa đậm chất nông thôn đồng bằng Bắc Bộ được phản ánh đậm nét và trở thành đặc trưng của dòng tranh này.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ở khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ra đời cách đây khoảng 500 năm. Cộng đồng thực hành nghề đã tạo ra những bức tranh có đặc trưng riêng về chủ đề, kỹ thuật in, màu sắc và đồ họa bằng kỹ thuật in khắc gỗ. Các chủ đề của tranh thường bao gồm tranh thờ, chúc tụng, tranh lịch sử, tranh sinh hoạt, tranh phong cảnh, gắn với tập tục treo tranh vào ngày Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, thờ cúng tổ tiên và thờ thần.

dongho3.jpg
Nghệ nhân khắc ván in tranh.

Các công đoạn sáng tác mẫu, khắc ván in, làm màu, in tranh đều bằng tay. Mẫu tranh được vẽ bằng bút lông, mực nho trên giấy bản và khắc trên ván gỗ thị. Các màu được chế biến từ nguyên liệu tự nhiên: màu xanh từ lá chàm, màu đỏ từ sỏi son, màu vàng từ hoa hòe và quả dành dành, màu trắng từ bột sò điệp bị phong hóa, màu đen từ tro lá tre, rơm nếp. Tranh được in úp ván với 5 màu cơ bản trên giấy dó đã được phủ một lớp hồ điệp. Các màu được in theo nguyên tắc màu đỏ in trước, tiếp đến màu xanh, vàng, trắng. Ván nét màu đen in cuối cùng để hoàn thiện bức tranh.

dongho.jpg
Tranh "Đám cưới chuột".

Sau năm 1945, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đứng trước nguy cơ mai một, không có người đến mua tranh. Do đó, các gia đình chuyển sang làm hàng mã. Hiện nay, làng Đông Hồ chỉ còn hai dòng họ làm tranh là: Họ Nguyễn Hữu và họ Nguyễn Đăng với ba gia đình tâm huyết còn bám trụ với nghề.

Những thay đổi về phong cách sống, về nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, cùng sự thay đổi của xã hội, của công nghệ hiện đại khiến người dân hiện nay không còn nhiều nhu cầu sử dụng tranh Đông Hồ trang trí trong nhà mỗi dịp Tết đến. Người theo nghề tranh cũng không còn nhiều như trước.

Tranh Đông Hồ không còn được bày bán rộng rãi như xưa mà giờ chỉ còn là một món đồ lưu niệm, hoặc được thấy ở những sự kiện văn hóa cộng đồng, khi các nhà tổ chức mời nghệ nhân trình diễn hoặc mua ván tranh, màu và giấy để làm dịch vụ trải nghiệm.

Địa phương và các nghệ nhân cũng như cơ quan quản lý đã có rất nhiều nỗ lực để khôi phục, làm sống lại một dòng tranh truyền thống.

Theo Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam đáp ứng các tiêu chí ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, cụ thể:

1. Tranh dân gian Đông Hồ gắn bó mật thiết với các lễ tiết quan trọng như Tết Nguyên đán và Tết Trung thu, cũng như các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và thần linh. Ngày nay, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục duy trì nghề này, truyền lại tri thức và kỹ năng trong phạm vi gia đình và cho người học việc thông qua hướng dẫn trực tiếp và kèm cặp thực hành. Một số công đoạn như vẽ mẫu và khắc bản in đòi hỏi đào tạo chuyên sâu và tích lũy kinh nghiệm trong nhiều năm. Các bản khắc gỗ được xem như báu vật gia truyền, được truyền lại qua nhiều thế hệ.

2. Số lượng nghệ nhân lành nghề đã giảm mạnh (theo hồ sơ đề cử, chỉ còn vài hộ gia đình duy trì nghề), do thế hệ trẻ ít quan tâm, nghề khó bảo đảm sinh kế, và nhu cầu sử dụng tranh in khắc gỗ trong các dịp lễ truyền thống giảm sút. Số người có tay nghề cao và tâm huyết theo đuổi nghề đã quá ít để duy trì việc truyền dạy và làm tranh, nên nghề cần được bảo vệ khẩn cấp.

3. Kế hoạch bảo vệ đề ra bảy mục tiêu, bao gồm: mở các lớp truyền nghề, kiểm kê di sản, thiết kế mẫu, đa dạng hóa thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, và cung cấp thiết bị bảo hộ cho nghệ nhân. Các hoạt động được đề xuất khả thi, phù hợp với mục tiêu và có tính bền vững, đồng thời đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm.

4. Hồ sơ cho thấy sự tham gia tích cực của cộng đồng, đặc biệt là các gia đình làm nghề, trong toàn bộ quá trình lập hồ sơ, thông qua các hoạt động kiểm kê và sự kiện công chúng.

5. Di sản đã được đưa vào Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, được cập nhật thường xuyên với sự tham gia của cộng đồng.

Có mặt tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, các thành viên đoàn Việt Nam đều đánh giá đây là cơ hội để khôi phục và phát triển nghề làm tranh Đông Hồ.

Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương, Trưởng đoàn Việt Nam tham dự Kỳ họp, cho rằng việc này thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những giá trị độc đáo, lịch sử và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của dòng tranh dân gian đã gắn bó với đời sống văn hóa người Việt hàng trăm năm qua, đồng thời là một sự ghi nhận kịp thời đối với một di sản đang đứng trước nguy cơ cao bị mai một.

Thứ trưởng cũng khẳng định các cơ quan chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục quan tâm và hỗ trợ các địa phương và cộng đồng chủ thể di sản trong việc bảo vệ các di sản phi vật thể để các di sản không chỉ được bảo vệ mà còn được trao truyền và phát huy sức sống bền vững.

Ông Mai Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cho biết, vào thời khắc Kỳ họp xem xét ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, toàn thể cộng đồng chủ thể di sản và nhiều người dân tỉnh Bắc Ninh chăm chú theo dõi và vô cùng phấn khởi khi Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được chính thức ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.

dongho2.jpg
Màu vẽ của tranh Đông Hồ sử dụng nguồn gốc tự nhiên.

Ông Mai Sơn nhấn mạnh tranh dân gian Đông Hồ thể hiện tri thức, kỹ thuật in mộc bản tinh xảo, màu sắc tự nhiên, phản ánh sinh động đời sống, phong tục và ước vọng của người Việt. Việc ghi danh này có ý nghĩa to lớn đối với cộng đồng chủ thể di sản nói riêng và với người dân Bắc Ninh nói chung. Ông khẳng định tỉnh Bắc Ninh cam kết thực hiện nghiêm túc kế hoạch bảo vệ di sản quan trọng này.

Việc di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh sẽ tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ khẩn cấp và lâu dài di sản này phù hợp với khuyến nghị của UNESCO; huy động đa dạng nguồn lực; tăng cường giáo dục, truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ; gắn bảo tồn với phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Đại sứ Nguyễn Thị Vân Anh, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO cho rằng sự kiện này không chỉ góp phần tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong kho tàng di sản văn minh nhân loại, mà còn là minh chứng sinh động cho sự trân trọng của UNESCO và cộng đồng quốc tế đối với đóng góp của Việt Nam vào việc bảo vệ sự đa dạng văn hóa và thúc đẩy phát triển bền vững. Sự kiện càng có ý nghĩa quan trọng trong trong bối cảnh Việt Nam và UNESCO đang hướng tới năm 2026 với các hoạt động phong phú và đặc sắc kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham gia UNESCO (1976–2026).

Thành công của hồ sơ đề cử “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ, chuẩn bị công phu và phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng chủ thể tranh dân gian Đông Hồ, chính quyền tỉnh Bắc Ninh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các chuyên gia về di sản, cùng với vai trò điều phối và phối hợp tích cực của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam trong suốt quá trình xây dựng, hoàn thiện và vận động hồ sơ. Hồ sơ đã được đánh giá cao về chất lượng và tính thuyết phục, thể hiện rõ cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo tồn di sản, bảo đảm tính liên tục, tính xác thực, đồng thời đề cao sự tham gia và vai trò trung tâm của cộng đồng – những người sáng tạo, lưu giữ và truyền dạy nghề.

Trong thời gian tới, một trong những việc quan trọng cần làm đối với việc bảo tồn và khôi phục nghề làm tranh Đông Hồ là đẩy mạnh quảng bá hình ảnh di sản “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” nói riêng và các di sản văn hóa Việt Nam nói chung tới bạn bè quốc tế, qua đó đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của thế giới trong bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Có thể bạn quan tâm

Tường Hoàng thành Huế được chống đỡ bằng khung thép.

Thích ứng với thiên tai trong bảo tồn di sản

Sau trận lũ tháng 11/2025, đoạn tường Hoàng thành Huế dài khoảng 15m bị đổ sập nay đã được khôi phục. Dọc tuyến thành dài gần 3km này hiện vẫn còn hàng chục mét phải chống đỡ bằng khung thép, cho thấy những tác động ngày càng rõ của mưa lũ, nắng nóng, bão và sạt lở đối với hệ thống di tích hàng trăm năm tuổi của Huế.

“Sinh viên thế hệ mới” 2026 lần đầu mở rộng sân chơi trực tuyến đến sinh viên trên toàn quốc. (Ảnh: VTV)

“Sinh viên thế hệ mới” trở lại, mở rộng sân chơi cho Gen Z

Tối 8/10, Ban Văn hóa-Giải trí, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Lễ công bố phát sóng mùa 4 chương trình “Sinh viên thế hệ mới” 2026, với chủ đề “Quê mình có việc, Gen Z Việt có cách”. Mùa 4 sẽ đưa các dự án đến gần hơn các vấn đề thực tế tại địa phương, đồng thời lần đầu mở rộng sân chơi trực tuyến đến sinh viên trên toàn quốc.

[Video] Việt Nam vào top 10 quốc gia được yêu thích nhất thế giới năm 2026

[Video] Việt Nam vào top 10 quốc gia được yêu thích nhất thế giới năm 2026

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết, tạp chí du lịch danh tiếng Condé Nast Traveler của Hoa Kỳ vừa công bố kết quả giải thưởng Readers’ Choice Awards 2026. Tại hạng mục 20 quốc gia được yêu thích nhất thế giới do độc giả toàn cầu bình chọn, Việt Nam xuất sắc ghi tên ở vị trí thứ 10 với tổng số 92,99 điểm.

Tiết mục nghệ thuật chào mừng Đại hội. (Ảnh: HỒNG HẢI)

Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Anh Phương tái đắc cử Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam tổ chức phiên trọng thể Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2026-2031). Đây được coi là ngày hội lớn của các nghệ sĩ múa trên cả nước, đồng thời cũng là dịp nhìn lại hành trình cống hiến và mở ra những chặng đường mới cho nghệ thuật múa nước nhà.

“Dệt sắc đan mây” nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các em học sinh. (Ảnh: DIỆU HƯƠNG)

“Dệt sắc đan mây”- Nối dài hành trình gieo hạt tri thức

Ngày 7/10, tại Trường tiểu học Trần Quốc Toản (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), dự án giáo dục Libreria Project đã mở đầu mùa hoạt động thứ 8 bằng sự kiện “Dệt sắc đan mây”, mang đến nhiều trải nghiệm ý nghĩa cho học sinh, tiếp tục nối dài hành trình gieo hạt tri thức.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Lâm và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Tỏ trao sách tặng các đại biểu. (Ảnh: NXB)

Nâng cao nhận thức về bảo vệ dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số

Với kết cấu gồm 3 chương, cuốn sách của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Tỏ tập trung làm rõ nhận thức về không gian mạng và dữ liệu cá nhân; tình hình và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân; những vấn đề đặt ra và các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân trên không gian mạng.

Toàn cảnh buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Jazz & Friends-Hội tụ và lan tỏa”. (Ảnh: HÒA NGUYỄN)

“Jazz & Friends”-Dấu ấn hội nhập và sáng tạo của Jazz Việt

Hướng tới kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Khoa Nhạc Jazz tổ chức chuỗi hoạt động chủ đề “Jazz & Friends-Hội tụ và lan tỏa”. Đây là dấu mốc quan trọng trong hoạt động của Khoa, cũng là dịp nhìn lại những bước chuyển mình của Jazz Việt trong đời sống âm nhạc đương đại.