Chuyện chưa kể chung quanh bộ phim “Thung lũng hoang vắng”

Tiết kiệm từng mét phim nhựa và làm phim với kinh phí vỏn vẹn 400 triệu đồng, tự xách tay bộ phim đi dự Liên hoan phim quốc tế, đưa người dân bản địa vào làm diễn viên quần chúng... Đó là những câu chuyện ít được biết đến của bộ phim "Thung lũng hoang vắng", dự kiến được trình chiếu trong Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng 2026.

Diễn viên, Nghệ sĩ Ưu tú Hồng Ánh trong phim. (Ảnh: VFDA)
Diễn viên, Nghệ sĩ Ưu tú Hồng Ánh trong phim. (Ảnh: VFDA)

​“Thung lũng hoang vắng” là một trong số 17 tác phẩm góp mặt trong chương trình "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới" tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần IV (diễn ra từ ngày 28/6 – 4/7). Phim từng giành nhiều giải thưởng điện ảnh trong nước và quốc tế, và hành trình ấy có rất nhiều những câu chuyện chưa từng được bật mí.

Bộ phim “Thung lũng hoang vắng” của đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang vẫn được nhắc đến như một biểu tượng cho sức sống bền bỉ của điện ảnh chân chính. Để tác phẩm này có thể chạm đến những giảng đường đại học tại Mỹ hay giành giải thưởng quốc tế, đó là một hành trình dài được dệt nên từ sự tận tụy thầm lặng và những nỗ lực vượt khó trong điều kiện làm phim vô cùng thiếu thốn của hơn 20 năm về trước.

Vào những năm đầu thập niên 2000, khi việc đưa một bộ phim trong nước ra quốc tế còn gặp nhiều rào cản về kinh phí và truyền thông, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang đã tạo nên một câu chuyện hy hữu. Thay vì các phương thức vận chuyển chuyên nghiệp, nữ đạo diễn đã đích thân "xách tay" bản phim nhựa từ Hà Nội sang California (Mỹ) để tham dự Liên hoan phim Việt Nam quốc tế (ViFF). Hình ảnh người đạo diễn tự mình bảo quản, nâng niu cuốn phim quý giá suốt chuyến bay dài không chỉ là một kỷ niệm khó quên, mà còn minh chứng cho sự trân trọng tuyệt đối đối với thành quả lao động của cả tập thể đoàn làm phim.

Hậu trường của “Thung lũng hoang vắng” là những câu chuyện về sự chắt chiu đến khắc nghiệt, nơi mỗi mét phim nhựa thời bấy giờ đều quý như máu thịt. Khi được trình chiếu tại các trường đại học danh tiếng ở Mỹ, bộ phim đã gây ra một sự ngạc nhiên về mặt tư duy sản xuất, khi biết toàn bộ kinh phí sản xuất trực tiếp tại hiện trường chỉ vỏn vẹn khoảng 400 triệu đồng.

Đoàn làm phim khi đó phải tính toán tỉ mỉ từng khung hình để tránh lãng phí. Điều này vô tình tạo nên một áp lực khủng khiếp lên vai các diễn viên, bởi mỗi đúp quay hỏng đều bị coi là một tổn thất lớn cho cả đoàn.

thunglung1.jpg
Cố nghệ sĩ Nguyễn Hậu và Nghệ sĩ Ưu tú Hồng Ánh.

Để đổi lấy sự chân thực tuyệt đối, đạo diễn đã bền bỉ làm việc với những diễn viên quần chúng là người dân bản địa Sa Pa. Đáng nhớ nhất là cảnh quay của bác nông dân người Tả Giàng Phình vào vai ông bố của nhân vật Mị. Bác đã phải tập đi tập lại đến 20 lần dưới sự hướng dẫn kiên trì của đạo diễn, cho đến khi thực hiện thành công ở lần thứ 21 mà không vấp thoại, khiến cả đoàn vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Sự kiên nhẫn này đã giúp bộ phim giữ được hơi thở nồng hậu của vùng cao, không sa vào việc dùng diễn viên miền xuôi đóng giả người dân tộc một cách khiên cưỡng.

Về mặt nội dung, “Thung lũng hoang vắng” không đi theo lối mòn của những bộ phim giáo dục thông thường. Phim thay thế những khung cảnh lớp học đồng thanh bằng những câu chuyện đằng sau bục giảng, nơi các giáo viên như thầy Tành (cố nghệ sĩ Nguyễn Hậu), cô Giao (Hồng Ánh) và cô Minh (Tuyết Hạnh) phải đối mặt với thực tế cơm áo gạo tiền khốc liệt. Họ vừa hồn nhiên như trẻ thơ khi nhận được món quà là con cá khô, vừa tiu nghỉu thở dài vì đãi ngộ chưa xứng đáng.

Đặc biệt, đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang đã thể hiện một góc nhìn tinh tế và táo bạo về tình yêu của người phụ nữ. Giữa thiên nhiên hoang sơ của xã Tả Giàng Phình, nhân vật cô Giao đã chọn sống thật với khao khát yêu thương của mình qua những đêm hò hẹn bên dòng suối cùng anh chàng địa chất. Sự nhạy cảm này giúp bộ phim thoát khỏi sự "lên gân", giải bớt cái gông về sự "cao quý" mà xã hội thường áp đặt lên nghề giáo, để đưa họ trở về đúng nghĩa là những con người có cảm xúc và bản năng.

Chính từ sự chân thực trần trụi và đầy tính nhân văn đó, bộ phim đã gây ra một sự ngạc nhiên lớn đối với khán giả quốc tế. Họ cảm phục trước cách mà những người nghệ sĩ Việt Nam nhào nặn nên một bộ phim từ số vốn ít ỏi và sự lăn xả hết mình vì nghệ thuật. Tiếng vang của tác phẩm còn thu hút một nhà sản xuất Hàn Quốc tự nguyện hỗ trợ 50.000 USD để đạo diễn sang nước bạn hòa âm lại theo chuẩn surround.

Sự nâng cấp kỹ thuật này không chỉ giúp phim đủ điều kiện tham dự Hội chợ phim Cannes mà còn khẳng định giá trị bền bỉ của phim. Trải dài từ giải Bông sen bạc trong nước đến giải Fipresci dành cho đạo diễn trẻ châu Á tại Liên hoan phim quốc tế Melbourne, tác phẩm đã chứng minh rằng: sự thật, dù đôi khi đau đớn hay khắc nghiệt, vẫn luôn là con đường ngắn nhất chạm đến trái tim khán giả ở bất cứ đâu trên thế giới.

thunglung2.jpg
Đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang.

Nhìn lại hành trình 20 năm đã qua, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang vẫn giữ trọn một lòng tin son sắt vào giá trị của sự nghiêm túc trong nghệ thuật. Chị tâm niệm rằng điện ảnh không chỉ là giải trí, mà phải là những trải nghiệm khiến người xem phải trăn trở và suy ngẫm sau khi rời rạp. Bởi theo chị, chỉ những gì thực sự sâu sắc, đi sâu vào thực tế phức tạp của con người và xã hội mới có đủ sức mạnh để tồn tại lâu bền cùng thời gian.

Nhân dịp phim được chiếu lại tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần IV trong khuôn khổ chương trình Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm Đổi mới, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Nhuệ Giang chia sẻ: “Trong dòng chảy của 40 năm đó, tôi tin rằng tác phẩm của mình đã đáp ứng được tiêu chí về những tìm tòi, đổi mới của điện ảnh Việt Nam. Đây là một trải nghiệm thú vị khi tôi có cơ hội gặp lại khán giả ngày hôm nay để xem họ suy nghĩ gì về một bộ phim phản ánh hình ảnh đất nước từ 20 năm trước”.

Có thể bạn quan tâm

Không gian trưng bày triển lãm nghệ thuật đương đại "Thể lạ".

Đối thoại về con người và AI trong không gian nghệ thuật đương đại

"Thể lạ" là hành trình khám phá mối quan hệ giữa con người và trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh công nghệ hiện diện sâu rộng ở đời sống sáng tạo. Thông qua các tác phẩm sắp đặt đa phương tiện, triển lãm mở ra góc nhìn về cách AI thành công cụ đồng hành, mở rộng năng lực của con người khi được sử dụng có ý thức và trách nhiệm.

Trình diễn múa lân trong buổi tái hiện lễ kết chạ.

Tái hiện lễ kết chạ 1000 năm tình nghĩa giữa hai làng Bắc Bộ

Cuối tuần qua, tại Đình Chính Vạn Phúc (thôn 1 Vạn Phúc, xã Nam Phù, Hà Nội), Lễ kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình giao hảo Vạn Phúc-Nga My chính thức diễn ra trong không gian linh thiêng của ngôi đình cổ, nơi lưu giữ ký ức cộng đồng và những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Nét đặc trưng ngôi nhà trình tường của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang.

Di sản tạo dựng thương hiệu địa phương

Trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch, các địa phương ngày càng chú trọng xây dựng thương hiệu điểm đến. Di sản, cảnh quan và bản sắc văn hóa được chuyển hóa thành chất liệu sáng tạo, đem đến những trải nghiệm mang dấu ấn riêng, góp phần tạo dựng hình ảnh và sức hấp dẫn của mỗi vùng đất.

(Ảnh minh họa: K.T)

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương, tạo chuyển biến thực chất trong công tác chuyển đổi số của ngành.

Ban tổ chức tặng cờ lưu niệm cho các đội tham gia Lễ hội xuống đồng.

Đặc sắc ngày hội xuống đồng trên đảo Hà Nam

Ngày 19/7, tại Di tích quốc gia đình Cốc, phường Phong Cốc (tỉnh Quảng Ninh) đã diễn ra Lễ hội xuống đồng của cư dân trên vùng đảo Hà Nam. Những bước chân xuống ruộng không chỉ mở đầu cho vụ cấy, mà còn đánh thức một không gian văn hóa đã được gìn giữ qua bao thế hệ của cư dân vùng đảo Hà Nam.

Ảnh minh họa. (Ảnh: K.T)

Nghị định về Hạ tầng văn hóa số: Mở không gian phát triển mới cho ngành văn hóa trên môi trường số

Ngày 18/7, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số. Đây là bước ngoặt chiến lược đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hóa số, chính thức “khai sinh” nhiều nội dung quan trọng cho phát triển và quản lý nhà nước về văn hóa.

Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế vừa phối hợp Câu lạc bộ Ca Huế Thính Phòng tổ chức buổi giới thiệu tập sách “Lời ca châu ngọc” do nhà thơ Võ Quê sưu tầm, biên soạn.

“Lời ca châu ngọc” góp phần gìn giữ và lan tỏa di sản ca Huế

“Lời ca châu ngọc” là tuyển tập các bài bản về ca Huế, do nhà thơ Võ Quê sưu tầm, biên soạn. Những tác phẩm ca Huế được tuyển chọn trong cuốn sách này mang một giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt. Phần lớn các tác phẩm được tuyển lựa thuộc các soạn giả trong hoàng tộc triều Nguyễn và đội ngũ văn nhân, thi sĩ uyên bác thời bấy giờ.

Quang cảnh cắt băng khai trương Triển lãm gốm Nam Bộ.

An Giang: Khai mạc trưng bày gốm Nam Bộ

Ngày 17/7, Bảo tàng tỉnh An Giang (Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh) phối hợp Hội cổ vật tỉnh An Giang long trọng tổ chức khai mạc trưng bày chuyên đề “Sắc gốm Nam Bộ: Tích truyện, tín ngưỡng và đời sống”.

Các chương trình nghệ thuật đặc biệt của Quảng Ninh thu hút hàng chục nghìn người tham gia.

Quảng Ninh tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, ngày 17/7 cho biết, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh chủ trì, phối hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ với chủ đề “Mãi mãi tuổi 20” nhằm tri ân các Anh hùng liệt sĩ.

CA’ Library là không gian cho nhiều người yêu thích kiến trúc, nghệ thuật.

Thư viện tư nhân góp phần lan tỏa văn hóa đọc

Những năm gần đây, hệ thống thư viện tư nhân tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức hoạt động, từ không gian đọc trong khu dân cư, làng xã đến thư viện chuyên ngành. Các mô hình này góp phần làm phong phú mạng lưới thư viện, lan tỏa văn hóa đọc và xây dựng môi trường học tập suốt đời.