Chùa trong đời sống của người Khmer Nam Bộ

Dân tộc Khmer có hơn 1,3 triệu người, hiện cư trú xen kẽ cùng với người Kinh, người Hoa và một số dân tộc khác, tập trung đông nhất là trên đất giồng cát, ven sông ở Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang, Trà Vinh. Là một dân tộc gắn bó với Phật giáo Nam tông hệ phái Mahanikaya, cho nên các phum, sóc của người Khmer đều có chùa để dân chúng đến tụng kinh, thờ Phật...

Ở Nam Bộ hiện có khoảng 500 chùa Khmer lớn nhỏ, tập trung ở hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, là hai địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, cũng là nơi có nhiều ngôi chùa Khmer nổi tiếng. Từ cổng nhìn vào chùa Khmer Nam Bộ, qua cầu thang, có hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chính điện được tráng xi-măng, mái chùa có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có thác nóc. Ðiểm chung của chùa Khmer Nam Bộ là chính điện quay về hướng đông; vì bà con cho rằng, con đường tu hành của Phật đi từ tây sang đông. Bên trong chính điện mang vẻ bề thế và lộng lẫy với nhiều màu sắc như nét văn hóa Khmer, nét đặc thù của Bà La-môn giáo, ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Ấn Ðộ, nhiều nhất là trên nóc được trang trí hình ảnh đền Ăng-co Vat nơi khởi nguồn của phong cách kiến trúc Khmer. Chung quanh trong chính điện bày trí nhiều hình ảnh giải thích quá trình tu hành khổ luyện của Ðức Phật từ lúc sinh ra đến lúc làm Thái tử và cho đến khi vào cõi Niết Bàn. Ðối diện chính điện là các cột trụ biểu với hình tượng thần rắn Naga năm đầu, dùng thắp nến vào những ngày lễ hội.

Ngôi chùa có một vị thế rất vững chắc trong đời sống xã hội và tâm thức của người Khmer Nam Bộ. Theo Hòa thượng Kim Rên - Trụ trì Chùa Dơi, thì: "Chùa và chư tăng là cột trụ về tinh thần, cho nên mọi nghi thức lễ hội, đón mừng năm mới diễn ra ở chùa, mang đậm màu sắc lễ hội Phật giáo. Nam giới lớn lên được tu dưỡng trong tinh thần Phật giáo, xuống tóc đi tu, học giáo lý nhà Phật, học văn hóa trước khi bước vào cuộc sống tự lập của người trưởng thành. Khi chết, người Khmer hỏa táng và tro được gửi lên chùa". Ðóng góp dựng chùa, nuôi chùa được coi như một khoán ước bảo đảm hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại và vĩnh hằng sau này của mỗi kiếp người. Người Khmer không tiếc công sức, vật liệu quý cùng sự khéo léo của đôi tay để xây dựng chùa, vì thế chùa trở thành trung tâm của phum, sóc, gắn bó thiêng liêng cả đời. Chùa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa, là nơi rèn luyện đạo đức, phẩm hạnh.

Về các phum, sóc nơi có đông người Khmer sinh sống, dễ dàng nhận thấy sự tương phản giữa những ngôi nhà lá đơn sơ của người dân với sự nguy nga, đồ sộ của ngôi chùa như một tác phẩm nghệ thuật giữa cảnh quan đồng bằng. Hiện, ở Sóc Trăng có khoảng 100 chùa, tiêu biểu Chùa Khléang (theo tiếng Việt là Sóc Trăng) là một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất trong tỉnh, được xây dựng vào đầu thế kỷ 16, gắn liền với truyền thuyết địa danh Sóc Trăng. Nơi chính điện là tượng Phật cao 6,8 m, phần thân tượng cao 2,7 m được đúc vào năm 1916. Tượng được đặt ngồi trên tòa sen lộng lẫy với vầng hào quang bằng điện lúc ẩn, lúc hiện, tạo nên sự uy nghiêm thanh thoát, huyền ảo. Chung quanh tượng Phật lớn và tượng Phật nhỏ có nhiều tủ kính trưng bày các hiện vật gia dụng của cộng đồng người Khmer xưa như là một cách bảo tồn và phát huy nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc mình. Chùa Khléang đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa quốc gia. Cổng chùa được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết, mầu sắc rực rỡ mang đậm phong cách Khmer. Trước chùa có xây hai tháp hình bầu dục nằm ở hai bên, dùng đựng xương cốt của các vị trụ trì.

Chùa Dơi được xây dựng năm 1569 với tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer là Sêrây Têchô Mahatúp, theo tiếng Việt là chùa Mã Tộc. Gọi là chùa Dơi vì ngôi chùa nổi tiếng với một đàn dơi hàng chục nghìn con dơi quạ tới trú ngụ. Ðã từ hàng trăm năm nay, đàn dơi chọn vườn chùa làm nơi cư trú và nghỉ ngơi, ban ngày treo mình trên các cành cây ngủ yên lành. Hoàng hôn xuống, chúng thức giấc bay lên, ríu rít gọi nhau, lượn qua lượn lại mấy vòng, rồi mới từ giã ngôi chùa đi kiếm ăn. Có một điều rất lạ là dơi không hề ăn một trái chín nào ở vườn chùa. Chúng tung cánh bay đi xa, kiếm ăn trên những miệt vườn khắp vùng sông Tiền, sông Hậu, để rồi sáng sớm lại trở về ngủ trong vườn chùa. Theo gia phả để lại, họ hàng dơi xuất hiện ở đây từ 200 năm về trước, dường như chúng đã chọn nơi này làm cửa sinh theo triết lý nhà Phật, là cửa sinh vì không bao giờ nhìn thấy một xác dơi chết. Chùa Dơi không chỉ nổi tiếng bởi những chú dơi, mà nổi tiếng với một quần thể kiến trúc đẹp vào bậc nhất. Mái chùa gồm hai tầng lớp ngói mầu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ tinh xảo hình rắn Naga cong vút. Trên đỉnh chùa có một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ quanh chùa, mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang đón chào khách thăm viếng. Trong chính điện (sanctury) có một pho tượng Phật Thích Ca bằng đá nguyên khối trên một tòa sen cao khoảng hai mét. Nhà giáo Nhân dân Lâm Es - Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Sóc Trăng, nói: "Tôi được như hôm nay  một phần chủ yếu là từ chùa. Lúc nhỏ được mẹ gửi lên chùa Cần Ðước (Mỹ Xuyên - Sóc Trăng) để đi học, ăn cơm chùa, áo quần bà con phum, sóc cho. Suốt chín năm tu ở chùa để trả hiếu, cầu kinh niệm Phật, mua sách vở tiếng Việt, tiếng Pháp về tự học và tìm kiếm sách tiếng Khmer trong các chùa về để tìm hiểu nghiên cứu, dạy chữ Paly cho trẻ nhỏ tại các phum, sóc lân cận. Ðó là những kỷ niệm đẹp nhất trong đời".

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.