Biến cát, nước biển thành vật liệu xây dựng

Sau chín năm tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm và khảo sát thực tế tại nhiều địa phương ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ sư thuộc Công ty tư vấn đầu tư - xây dựng - thương mại - dịch vụ (ĐT-XD-TM-DV) Châu đã nghiên cứu thành công một công nghệ mới để sản xuất các vật liệu xây dựng cao cấp như ngói, gạch trang trí, gạch lát nền, gạch vỉa hè, gạch xây dựng, sứ vệ sinh... bằng nguyên liệu cát và nước biển.

Qua nhiều thí nghiệm và thực nghiệm về các mặt lý học và hóa học như độ chịu lực nén, tác động của môi trường tự nhiên (nắng, mưa), tác động hóa học (môi trường có hàm lượng hóa chất cao) cũng như đánh giá việc sử dụng cho thấy sản phẩm có chất lượng tương đương và cao hơn các loại vật liệu được sản xuất theo công nghệ lò ống đang được áp dụng hiện nay.

Sau khi cho xem những sản phẩm không nung thử nghiệm làm từ cát và nước biển (gạch xây, gạch lát, gạch ốp lát...) và so sánh đối chứng với sản phẩm cùng loại sản xuất theo công nghệ truyền thống, ông Lê Hải Châu, Giám đốc Công ty tư vấn ĐT-XD-TM-DV Châu khẳng định: "Đây là công nghệ đầu tiên và duy nhất trên thế giới về việc đưa cát và nước biển vào ứng dụng sản xuất vật liệu xây dựng nên không có cạnh tranh. Sản phẩm sẽ có giá thành rẻ hơn khoảng 20% so với giá gạch xây dựng thông thường đang bán trên thị trường và rẻ hơn 50% so với các sản phẩm trang trí đang sử dụng hiện nay".

Ông Châu mô tả tóm tắt công nghệ mới này như sau: Dây chuyền công nghệ được nghiên cứu chế tạo theo mô hình di động để thích nghi, phù hợp với mục đích sản xuất nguyên liệu công trường XD hoặc việc vận chuyển lắp đặt nhanh chóng khi thay đổi địa điểm hay việc sản xuất tại các vùng hải đảo xa đất liền. Công suất thiết kế ban đầu cho mỗi máy là 1.200 - 1.500 viên/giờ. Dây chuyền sản xuất gồm các hệ thống chính: hệ thống xử lý cát biển và nước biển, hệ thống máy kết trộn nguyên liệu, phụ gia (hệ thống quan trọng nhất, máy rộng 6m, dài 9m và cao 3m) và hệ thống định hình sản phẩm.

Chất phụ gia (sản xuất trong nước và một phần NK) là những chất được sử dụng trong quá trình sản xuất có tác dụng để tạo ra sự liên kết bền vững giữa các phần tử nguyên liệu từ đó tạo ra các sản phẩm đạt chất lượng cao. Chất phụ gia sử dụng trong công nghệ sản xuất này được nghiên cứu và ứng dụng nhờ vào những thành tựu nghiên cứu khoa học trong một thời gian dài của những nhà khoa học Việt Nam, được sản xuất từ những nguyên liệu tự nhiên, không gây độc hại, không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường sống trong suốt quá trình từ khi sản xuất đến toàn bộ thời gian sử dụng công trình lâu dài sau này.

Với sản lượng 20 triệu sản phẩm/năm, cần 6.000 tấn cát và tổng vốn đầu tư khoảng 40 tỷ đồng, nhà máy không thải ra chất thải dạng khí, chỉ có một lượng nhỏ chất thải rắn rơi vãi và nước thải sinh hoạt hằng ngày của người lao động.

Giai đoạn đầu, nhà máy ở Dung Quất sẽ cho ra các sản phẩm: gạch trang trí dùng ốp tường trang trí nội thất và ngoại thất các công trình xây dựng, gạch ốp hoặc lót đường đi vỉa hè hay trang trí, gạch lát vỉa hè, sân vườn, gạch trang trí lát đường đi trong các khu du lịch... Ông Châu dự kiến xây dựng nhà xưởng, chế tạo và nhập khẩu thiết bị vào tháng 12-2004 và sẽ đưa nhà máy vào hoạt động sản xuất tháng 5-2005.

Lợi ích không thể đo đếm của công nghệ mới này là góp phần bảo vệ môi trường sống. Từ bao năm nay, nhiều vùng trên đất nước, người ta sản xuất gạch phổ biến theo phương pháp thủ công lò nung truyền thống và để lại hậu quả rất nặng nề: nguồn đất sét bị khai thác bừa bãi làm thu hẹp quỹ đất nông nghiệp và xâm hại nghiêm trọng đến các công trình thủy lợi, đê điều... Một lợi thế rất lớn nữa của công nghệ mới này là tăng khả năng cạnh tranh về giá thành và chất lượng sản phẩm.

Nguyên nhân cơ bản khiến hàng VLXD sản xuất ở Việt Nam hiện nay xuất khẩu rất khó khăn sang các nước trong khu vực là vì giá hàng cao hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại. Giá một bộ sứ vệ sinh XK của Việt Nam từ 35 - 37 USD, trong khi giá bộ sứ vệ sinh tương tự của Trung Quốc chỉ có 22 - 26 USD, Thái-lan 25 - 28 USD và của Indonesia là 30 - 32 USD. Giá gạch ốp lát đang bán ở Việt Nam cũng cao hơn 20 - 25% so với sản phẩm cùng loại, cùng chất lượng đang bán ở các nước trong khu vực. Yếu tố giá thành sản phẩm cao cộng thêm với giá điện, cước vận tải container, cước dịch vụ viễn thông... cũng cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực càng làm cho hàng VLXD của Việt Nam kém sức cạnh tranh. Nguy cơ lớn nữa là Việt Nam phải giảm thuế NK hàng VLXD theo lộ trình AFTA, sứ vệ sinh đã giảm còn 20% và năm 2006 chỉ còn 5%. Do vậy, các chuyên gia hy vọng rằng công nghệ mới này sẽ đưa hàng VLXD của Việt Nam trong tương lai không xa thống lĩnh thị trường các nước trong khu vực.

HOÀNG LỘC               
(Thời báo kinh tế Việt Nam)

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.