Tổng kết 15 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cho thấy, công tác giải quyết nuôi con nuôi về căn bản đã đi vào nền nếp, giúp nhiều trẻ em không được sống cùng cha, mẹ ruột có cơ hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện cũng bộc lộ một số quy định chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, làm giảm hiệu quả của công tác giải quyết nuôi con nuôi cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) vì vậy hướng tới hoàn thiện quy trình giới thiệu trẻ em và xác nhận điều kiện các bên nhằm tăng tính minh bạch, phòng ngừa môi giới, trục lợi và các hành vi lợi dụng việc cho, nhận con nuôi.
Khoảng trống pháp lý tạo ra những nguy cơ
Một trong những bất cập nổi bật là Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chưa quy định cơ chế giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước, hay còn gọi là cơ chế “ghép trẻ”. Do chưa có cơ chế này, người có nhu cầu nhận con nuôi phải tự tìm trẻ em để nhận làm con nuôi.
Việc tự kết nối làm phát sinh nguy cơ trao đổi, thỏa thuận giữa bên cho và bên nhận con nuôi. Trong một số trường hợp, khoảng trống pháp lý này còn có thể tạo cơ hội cho các đối tượng trung gian trục lợi từ việc môi giới cho, nhận con nuôi bất hợp pháp.
Thực tiễn đó cho thấy, nếu việc nhận con nuôi chủ yếu dựa vào sự tự tìm kiếm và tự thỏa thuận giữa các bên thì rất khó bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong quá trình giải quyết. Đồng thời, cơ quan nhà nước cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát đầy đủ điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi, điều kiện của người nhận con nuôi cũng như toàn bộ quá trình kết nối giữa hai bên.
Khoảng trống này càng trở nên đáng quan tâm khi dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm xuyên suốt là mọi quyết định liên quan nuôi con nuôi phải được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, tại tỉnh Cà Mau, một trong những khó khăn nan giải trong lĩnh vực nuôi con nuôi là tình trạng chăm sóc và nhận nuôi dưỡng trẻ em nhưng không đăng ký tại các cơ quan có thẩm quyền. Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý của cha mẹ nhận con nuôi không muốn nhiều người biết việc nhận con nuôi, không muốn trẻ biết mình là con nuôi... Chính điều này khiến việc nuôi con nuôi tiềm ẩn nhiều hệ lụy.
Quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em không được bảo đảm đầy đủ; người nhận nuôi cũng không được pháp luật công nhận là cha mẹ hợp pháp. Khi xảy ra tranh chấp, các bên gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi, do cơ quan chức năng không có căn cứ pháp lý để can thiệp, giải quyết.
Do đó, cùng với việc thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, tỉnh Cà Mau đã tăng cường thẩm quyền cho cấp xã, nhiều nơi luân chuyển, điều động cán bộ dẫn đến thiếu người có kinh nghiệm, nghiệp vụ trong lĩnh vực này. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp thường xuyên đôn đốc Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, đánh giá trẻ em cần được nhận làm con nuôi; hoặc đối với trẻ em đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế theo quy định.
Thực tế, việc một trẻ em được nhận làm con nuôi không chỉ là sự đồng thuận giữa người cho và người nhận, mà còn là một quyết định pháp lý có ảnh hưởng lâu dài đến quyền, lợi ích và sự phát triển của trẻ.
Vì vậy, quá trình lựa chọn gia đình thay thế cần được đặt trong một cơ chế chặt chẽ, có sự đánh giá khách quan, thay vì chỉ dựa trên sự thỏa thuận giữa các cá nhân.
Đây cũng là lý do trong quá trình tổng kết thi hành Luật, cơ quan chủ trì xây dựng dự án Luật đã xác định việc bổ sung cơ chế giới thiệu trẻ em cho gia đình nhận nuôi là một trong những nội dung cần hoàn thiện nhằm khắc phục bất cập của pháp luật hiện hành.
Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc nhấn mạnh: "Dự thảo luật sửa đổi lần này cần quy định cụ thể hơn trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong toàn bộ quy trình từ giới thiệu trẻ em, thẩm định hồ sơ, hỗ trợ các bên đến theo dõi sau khi hoàn tất việc nhận nuôi nhằm hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết hoặc phát sinh khoảng trống trong công tác quản lý Nhà nước".
Quy trình giải quyết chặt chẽ, minh bạch bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ
Một trong ba chính sách lớn được xác định trong hồ sơ chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đó là quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Theo định hướng này, dự thảo Luật không chỉ hướng đến hoàn thiện các quy định về điều kiện của người được nhận làm con nuôi và điều kiện của người nhận con nuôi, mà còn bổ sung những nội dung pháp luật còn thiếu, trong đó có quy định về xác nhận điều kiện của người được nhận làm con nuôi, xác nhận điều kiện của người nhận con nuôi và cơ chế giới thiệu trẻ em cho gia đình nhận nuôi.
Việc bổ sung cơ chế giới thiệu trẻ em được kỳ vọng sẽ tạo lập một quy trình khách quan, minh bạch hơn trong việc kết nối trẻ em với gia đình có nhu cầu nhận nuôi. Thay vì để các bên tự tìm đến nhau, việc giới thiệu sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật, trên cơ sở xem xét đầy đủ các điều kiện và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Mục tiêu của chính sách không chỉ là khắc phục khoảng trống pháp lý đã tồn tại trong nhiều năm mà còn bảo đảm thủ tục giải quyết nuôi con nuôi được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, qua đó ngăn chặn tình trạng lợi dụng việc cho, nhận con nuôi để trục lợi và góp phần vào công tác phòng, chống mua, bán trẻ em.
Cùng với đó, việc hoàn thiện quy định về giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi còn góp phần tạo sự tương đồng giữa thủ tục giải quyết nuôi con nuôi trong nước và thủ tục giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như các khuyến nghị của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế.
Định hướng này cũng thống nhất với mục tiêu chung của việc xây dựng Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), đó là tiếp tục nội luật hóa các điều ước quốc tế có liên quan, xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất, tạo thuận lợi cho công tác giải quyết nuôi con nuôi, đồng thời bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em.
Bên cạnh việc bổ sung cơ chế giới thiệu trẻ em, dự thảo Luật còn hướng tới hoàn thiện đồng bộ nhiều quy định khác như điều kiện của người được nhận làm con nuôi, điều kiện của người nhận con nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, hủy bỏ giấy tờ về nuôi con nuôi...
Qua đó, hình thành một quy trình giải quyết nuôi con nuôi chặt chẽ hơn ngay từ khâu xác định trẻ em đủ điều kiện được nhận làm con nuôi đến quá trình lựa chọn gia đình thay thế phù hợp.
Khi việc giới thiệu trẻ em được thực hiện theo một quy trình minh bạch, có sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền và gắn với việc đánh giá đầy đủ điều kiện của các chủ thể liên quan, hoạt động nuôi con nuôi sẽ từng bước hạn chế được những nguy cơ phát sinh từ các thỏa thuận riêng giữa các bên.
Đây cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh, góp phần bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị lợi dụng, đồng thời bảo đảm mỗi quyết định cho, nhận con nuôi thực sự vì lợi ích tốt nhất của trẻ em - mục tiêu xuyên suốt của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
Cơ bản đồng tình với định hướng chính sách trong sửa đổi Luật Nuôi con nuôi, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đề nghị, về điều kiện nhận con nuôi, Bộ Tư pháp cần tiếp tục rà soát dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) để xác định đầy đủ các trường hợp không được nhận con nuôi, vừa bảo đảm quyền nhận con nuôi của cá nhân, vừa tránh bỏ sót những trường hợp có thể ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ.
Đối với đăng ký lại việc nuôi con nuôi, Thường trực Ủy ban tán thành quy định nhằm bảo vệ quan hệ pháp lý cha, mẹ và con khi giấy tờ bị mất và không còn thông tin trong cơ sở dữ liệu, đồng thời đề nghị bổ sung các trường hợp giấy tờ bị hủy hoại, hư hỏng.