Ông Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết, nhằm thể chế hóa tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, cơ quan liên quan dồn nguồn lực xây dựng Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi và Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương; đồng thời, số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông.
Đây là ba trụ cột chính sách lớn nhằm kiến tạo giải pháp căn cơ để kiểm soát xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm, từ khâu sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt ban đầu cho đến quá trình lưu thông, chế biến và tiêu dùng cuối cùng.
Ngăn chặn nguy cơ ngay từ gốc
Theo ông Chu Quốc Thịnh, đối với Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, nội dung trọng tâm hướng tới việc thay đổi căn bản tư duy quản lý từ trạng thái “chạy theo xử lý phần ngọn” sang chủ động “ngăn chặn nguy cơ ngay từ gốc.”
Theo đó, Dự thảo Luật tập trung thiết lập cơ chế quản lý dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng với mục tiêu giám sát, bảo đảm an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm từ sản xuất ban đầu (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ) đến sơ chế, chế biến, kinh doanh và lưu thông trên thị trường. Đây cũng là hướng quản lý đang được nhiều quốc gia phát triển áp dụng.
Cùng với đó, việc từng bước hướng tới quản lý an toàn thực phẩm bằng dữ liệu đã được số hóa và hệ thống thông tin dữ liệu quốc gia liên thông sẽ thúc đẩy công tác quản lý an toàn thực phẩm được đồng bộ, rút ngắn thời gian giải quyết. Việc số hóa dữ liệu này nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục sự cố, truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm cũng như công tác kiểm tra thực phẩm trong quá trình lưu thông trên thị trường.
Ngoài ra, một hệ thống thông tin thống nhất về an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương cũng sẽ được xây dựng, tạo nền tảng cho công tác quản lý đồng bộ và hiệu quả trên toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm.
Xóa bỏ triệt để tình trạng quản lý phân tán, chồng chéo trách nhiệm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Đối với dự thảo Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương, ông Thịnh cho biết, mục tiêu cốt lõi là xóa bỏ triệt để tình trạng quản lý phân tán, chồng chéo trách nhiệm giữa các bộ, ngành hiện nay. Việc quy về một mối kiểm soát sẽ giúp dòng chảy thông tin thông suốt, tối ưu hóa năng lực giám sát toàn diện chuỗi cung ứng thực phẩm, từ đó giúp cơ quan chức năng nhanh chóng khoanh vùng, xử lý dứt điểm các sự cố mất an toàn thực phẩm ngay khi vừa phát sinh.
Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở nước ta được tổ chức theo mô hình phân công cho 3 Bộ gồm: Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công thương. Theo đó, mỗi bộ được phân công phụ trách lĩnh vực quản lý theo ngành hàng thực phẩm.
Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 6 ngành hàng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý 19 ngành hàng, Bộ Công thương quản lý 8 ngành hàng.
Với mỗi ngành hàng được phân công, các Bộ chịu trách nhiệm quản lý xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm bao gồm: Sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối, kinh doanh; đồng thời xây dựng hệ thống ngành dọc theo chuyên ngành quản lý an toàn thực phẩm theo từ Trung ương đến địa phương.
Tại địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được Chính phủ giao và theo phân cấp của các Bộ chuyên ngành.
Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và hoạt động đánh giá sự phù hợp đối với thực phẩm nhưng không trực tiếp thực hiện quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm.
Với mô hình phân công quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo mặt hàng riêng biệt, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm còn hạn chế, xảy ra tình trạng chồng chéo, không đồng bộ, thậm chí không xác định được trách nhiệm quản lý trong một số trường hợp chuỗi cung ứng thực phẩm liên quan lĩnh vực quản lý của nhiều bộ, ngành…
Đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi hành vi của toàn xã hội
Cũng theo Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, bên cạnh những giải pháp mang tính chiến lược dài hạn về mặt thể chế, Chính phủ và Bộ Y tế cũng thường xuyên, liên tục có các chỉ đạo bám sát tăng cường kiểm tra, giám sát tại những lĩnh vực và địa bàn có nguy cơ cao xảy ra ngộ độc thực phẩm.
Một trong những trọng tâm là kiểm soát chặt các bếp ăn tập thể tại khu công nghiệp, trường học - nơi phục vụ hàng triệu suất ăn mỗi ngày. Việc quản lý sẽ tập trung vào nguồn nguyên liệu đầu vào và thực hiện nghiêm quy định lưu mẫu thức ăn.
“Cùng với đó, loại hình thức ăn đường phố khó quản lý do tính chất nhỏ lẻ và thường xuyên di chuyển cũng được các địa phương tăng cường kiểm tra định kỳ lẫn đột xuất, hướng dẫn người kinh doanh tuân thủ 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời phát huy vai trò giám sát của chính quyền cấp xã - nơi sát người dân nhất”, ông Thịnh nhấn mạnh.
Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm cho biết, trong Tháng hành động vì an toàn thực phẩm (từ ngày 15/4-15/5/2026), các đoàn kiểm tra liên ngành từ Trung ương đến địa phương đã kiểm tra hơn 62.000 cơ sở, phát hiện gần 5.750 cơ sở vi phạm. Trong đó, 3.687 cơ sở đã bị xử lý với tổng số tiền phạt hơn 22,4 tỷ đồng; 29 cơ sở bị đình chỉ hoạt động và 17 vụ việc có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng được chuyển cơ quan điều tra.
Theo ông Chu Quốc Thịnh, công tác thanh tra, kiểm tra lần này tập trung vào một số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; cơ sở có bếp ăn tập thể, kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố; kiểm soát những đầu mối sản xuất, nhập khẩu, chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ truyền thống, cơ sở giết mổ, vận chuyển thực phẩm; đồng thời kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn lậu, hàng giả, hàng không bảo đảm chất lượng, hết hạn sử dụng...
Cùng với việc kiểm tra, giám sát, công tác thông tin, giáo dục và truyền thông được các cơ quan quản lý nhà nước xác định là giải pháp tiên quyết, với mục tiêu cao nhất là đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi hành vi của toàn xã hội.
Hoạt động truyền thông không còn dừng lại ở việc phổ biến văn bản pháp luật khô khan, mà chuyển trọng tâm sang hướng dẫn hành động cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Đối với người sản xuất, chăn nuôi và chế biến, tuyên truyền gắn liền với việc thay đổi thói quen lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất độc hại, hướng họ dịch chuyển tư duy sang canh tác an toàn, có trách nhiệm giải trình.
Đối với người tiêu dùng, các chương trình truyền thông tập trung hình thành thói quen “nói không” với thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc; chủ động quét mã QR truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hình thành phản xạ tự nhiên trong việc giám sát, phát giác các cơ sở làm ăn chộp giật.
Theo ông Chu Quốc Thịnh, sự thay đổi hành vi mang tính bền vững này từ cả phía cung và phía cầu chính là giải pháp gốc rễ để triệt tiêu các nguy cơ mất an toàn, đưa việc thực hành vệ sinh thực phẩm trở thành một nét văn hóa ứng xử tự giác trong đời sống hằng ngày.