Ân nhân của vị đại tướng

Đầu tháng 10 vừa qua, nhiều cán bộ, chiến sĩ từng sống, chiến đấu ở Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hẹn nhau về làng gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ (Bắc Ninh), quê của Đại tướng Phạm Văn Trà, mừng ông vào tuổi 90. Anh em chúng tôi phần lớn từng cùng nhau vào sinh ra tử, chia ngọt sẻ bùi với ông, mỗi lần gặp lại nhau, câu chuyện bao giờ cũng cởi mở, chân tình.
Đại tướng Phạm Văn Trà trao học bổng cho học sinh thành phố Cần Thơ.
Đại tướng Phạm Văn Trà trao học bổng cho học sinh thành phố Cần Thơ.

1/Trong lúc mọi người đang vui câu chuyện, tôi hỏi ông: Anh Ba à (tên thân mật mọi người thường gọi ông là Ba Trà)! Cho đến nay, anh đã có hơn 70 năm trong quân ngũ, đã trải bao chuyện vui, buồn… Vậy cho đến hôm nay, có kỷ niệm nào mà anh cho là sâu sắc nhất?

Nhấp một ngụm nước, đưa mắt nhìn về xa xăm, rồi ông chậm rãi nói: Kỷ niệm thì nhiều! Nhiều lắm! Nhưng có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên. Đó là lần tôi bị thương trong trận đánh tiêu diệt gọn tiểu đoàn 3, thuộc sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn ở xã Long Phú, huyện Long Mỹ (Cần Thơ) vào cuối tháng 10/1966.

Rồi ông chậm rãi kể: Vào một đêm cuối tháng 10/1966, Tiểu đoàn 309 (Trung đoàn U Minh) chúng tôi, sau khi tiêu diệt gọn tiểu đoàn 3, sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn, thì trời vừa rạng sáng, đơn vị được lệnh lui quân. Anh Sáu Hà - tiểu đoàn trưởng phân công tôi bám trụ lại để giải quyết thương binh, liệt sĩ rồi rút về sau. Xong mọi việc thì trời sáng bạch. Lúc này, địch ở các đồn lân cận bung ra phản kích. Máy bay, pháo từ căn cứ Vị Thanh, Hỏa Lựu thi nhau bắn phá dọc các tuyến lộ, tuyến kênh mà chúng cho là đường rút quân của ta. Một quả pháo địch nổ cách tôi hơn chục mét. Bùn đất phủ kín người, tai tôi ù đặc, chân bên phải đau nhói. Một mảnh đạn pháo đã làm mẻ một mảnh xương cổ chân, tôi không thể nào đi lại được. Người còn lại bên tôi lúc này là chiến sĩ liên lạc, cố dìu tôi ra giữa đồng, xa trục lộ và bờ kênh…

Mặt trời đã lên cao, nắng nóng khiến vết thương của tôi đau nhức đến tận óc. “Không thể ở đây, chết cả hai người”, tôi nghĩ ra lệnh cho liên lạc: phải nhanh chóng rời khỏi đây về tiểu đoàn báo cáo tình hình rồi đêm đến trở lại đón tôi. Người chiến sĩ nhìn tôi ái ngại, nhưng trước thái độ kiên quyết của tôi, cậu xách khẩu AK bước đi, tay gạt nước mắt.

Chờ cho cậu liên lạc khuất sau đám dừa nước, tôi cắn răng cố lết thêm một quãng, tránh xa trục lộ và bờ kênh. Đang vào mùa khô, nắng nóng cộng với vết thương, làm tôi khát cháy cổ. Tôi lết đến một vũng nước, vốc lấy mấy ngụm cho đỡ khát, rồi lết tiếp, hướng về một ấp trước mặt.

2/Chừng quá trưa, cơn đói và mệt đã khiến tôi lả đi. Đang suy nghĩ làm sao vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo này, thì tôi bỗng thấy từ trong ấp, một cậu bé theo bờ ruộng tiến về phía mình. Chờ cho cháu đến gần, tôi nhỏm dậy và gọi to. Cháu giật mình, khựng lại, rồi tiến thêm vài bước, nhìn chằm chằm vào tôi. Sau đó, cháu quay đầu đi như chạy về ấp.

Thấy cháu đi như “ma đuổi”, trong tôi hình thành hai khả năng. Trường hợp xấu, cháu sẽ báo cho lính đồn ra bắt tôi. Ngược lại, cháu sẽ trở thành “thần hộ mệnh” của tôi. Tôi kiểm tra lại khẩu súng ngắn, số đạn và quả lựu đạn đang đeo bên sườn, đề phòng bất trắc sẽ “tử chiến với địch”.

Thời gian nặng nề trôi qua. Khoảng ba tiếng sau, lúc mặt trời đã xế bóng, từ xa, thấy một mình cháu xuất hiện, ngang hông cắp một chiếc thúng nhỏ, tôi thở phào nhẹ nhõm. Lại gần cách tôi chừng chục bước, cháu khẽ khàng đặt chiếc thúng xuống vệ cỏ, nhìn tôi chốc lát rồi lẳng lặng quay về ấp. Cháu đi được một quãng xa, tôi bò lại và không tin vào mặt mình, trong thúng có một đĩa xôi to, nửa con gà luộc và một bình nước. Tâm trạng tôi lúc này thật khó tả! Nước mắt tôi trào ra. Tôi cố gắng ăn mấy miếng rồi uống nước để lấy sức. Chiều tắt nắng, hoàng hôn buông trên đồng, rồi trời nhá nhem tối, cháu bé ban chiều đã cùng một phụ nữ ra dìu tôi về nhà. Đưa tôi vào nhà, người phụ nữ nói trong xúc động:

- Cán bộ xá lỗi cho, biết ông đau, chờ đợi, nhưng má con tôi không thể làm khác được: Lính “quốc gia” nhan nhản trong làng, ngoài ấp. Ban ngày đón ông làm sao che mắt chúng được.

Tôi cảm ơn cháu và chị đã cứu mạng, đồng thời mong chị đừng gọi tôi bằng ông. Để tránh phiền hà, liên lụy cho gia đình, tôi bày tỏ ý nhờ chị giấu tôi ở một nơi nào đó, không ở trong nhà. Chị trả lời rành rọt và dứt khoát: Không được, ra khỏi nhà tôi bây giờ, anh sẽ bị lính bắt ngay (chị đã chuyển gọi tôi bằng anh). Tôi sẽ giấu anh trong buồng, trong hầm tránh đạn pháo. Nhà tôi nấu rượu, lính đồn vào ra mua rượu liên tục, nhưng anh đừng sợ, chúng vào đây không quan tâm đến mọi việc ngoài mấy xị rượu đâu. Vả lại, anh bị thương, biết đơn vị ở đâu mà tìm bây giờ.

3/Năm ngày ở nhà chị, tôi luôn trong tâm trạng nơm nớp, không biết những ngày tới sẽ ra sao. Mặc dù chị chủ nhà hằng ngày vẫn rửa vết thương cho tôi, đắp vài thứ thuốc lặt vặt, nhưng đến ngày thứ sáu vết thương bị nhiễm trùng nặng, đã có giòi. Thấy nằm ở đây bất tiện đủ điều, tôi nói với chị Sáu (mấy hôm ở trong nhà tôi nghe mọi người qua lại gọi cô Sáu) đưa tôi đi. Biết không thể giữ tôi lại, hơn nữa thấy vết thương của tôi ngày càng trầm trọng, chị Sáu nói như phân bua: Anh bỏ quá cho, bây giờ mà tìm bác sĩ làm thuốc cho anh, chắc vết thương sẽ ổn, nhưng khác nào gửi anh cho lính đồn. Vậy, giờ biết đưa anh đi đâu!

- Chị cứ đưa tôi đến nơi nào mà pháo hay máy bay phía bên kia đánh phá, đó là nơi có du kích; hoặc chị dò hỏi đơn vị U Minh ở chỗ nào thì nhiều người biết đấy! Chị miễn cưỡng cười: Tôi chịu mấy anh giải phóng! Bom đạn đầy trời, đơn vị không biết ở đâu mà cứ nằng nặc ra đi.

Thế rồi chị khẩn trương chuẩn bị, nhờ thêm người thân cáng tôi đi mờ sáng hôm sau. Vì chị nấu rượu nên quen khá nhiều lính đồn; lại lấy lý do đưa người nhà bệnh nặng đi viện, nên tôi đã qua được các trạm kiểm soát của địch và đến vùng du kích an toàn. Tạm biệt gia đình chị Sáu, tôi không cầm nổi lòng mình. Tôi thầm cầu mong trời phật phù hộ chị Sáu và các con chị. Tôi hứa sẽ có dịp trở lại để tạ ơn mẹ con chị.

4/Việc tôi đột ngột trở về tiểu đoàn khiến mọi người ngỡ ngàng và xúc động. Bởi ngay đêm hôm bị thương, cậu liên lạc cùng hai chiến sĩ trinh sát trở lại tìm tôi nhưng không thấy. Mọi người cho rằng tôi đã hy sinh hoặc đã bị địch bắt. Anh Sáu Hà ôm chầm lấy tôi, nước mắt giàn giụa. Ngay sau đó, tôi được đưa về Bệnh xá của Quân khu, mãi tận U Minh thượng để điều trị.

Ra viện tôi trở về đơn vị, tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Vì chiến dịch nối tiếp chiến dịch nên mãi tới sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, tôi mới có dịp trở lại Long Phú, huyện Long Mỹ (Cần Thơ) tìm chị. Nhưng bà con nơi đây cho hay, gia đình chị đã đi vùng kinh tế mới ở Sóc Trăng hay Bạc Liêu gì đó!

- Thế sau này anh có tìm được gia đình chị Sáu không? Tôi hỏi.

Nhấp một ngụm nước, anh tiếp tục kể: Do công việc níu kéo, tôi không có thời gian đi tìm chị Sáu nên đã nhờ tỉnh đội Sóc Trăng, Cần Thơ và Bạc Liêu tìm giúp. Mãi đến tháng 7/2006 - tức tròn 40 năm sau, tôi đã tìm được chị và gia đình qua tin tức của anh em ở tỉnh đội Sóc Trăng. Theo địa chỉ mà các anh tỉnh đội Sóc Trăng cho biết, tôi tìm đến ấp Ngã Năm thuộc xã Vĩnh Quới, huyện Thanh Trị, Sóc Trăng - nơi gia đình chị Sáu đang cư trú.

Sau phút ngỡ ngàng, khi nhận ra tôi, chị nghẹn ngào: Ủa anh Ba! Lâu quá rồi. Bấy lâu sao không thấy anh quay trở lại thăm mẹ con em? Mà sao anh biết em ở đây hay vậy? Tôi nghẹn lại không nói được lời nào. Tôi nắm bàn tay gầy guộc của chị mà trong tôi dấy lên một nỗi niềm khó tả. Chị đã già đi nhiều quá! Trên khuôn mặt trái xoan rám nắng của chị đã xuất hiện những nếp nhăn nơi khóe mắt. Tay chị run run cầm bình nước rót vào cốc mời tôi. Chính bàn tay này đã cẩn thận rửa, băng bó vết thương cho tôi dưới ánh đèn dầu trong buồng nhà chị năm nào…

Những năm sau đó, nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương, cộng với sự giúp đỡ của đơn vị tôi, nên chị đã cất được ngôi nhà mới, mua thêm ít công ruộng và dụng cụ sản xuất, nên đời sống khá ổn định.

- Thế cậu bé năm xưa giờ thế nào hả anh? Tôi hỏi.

Cậu bé năm xưa ấy à? Cậu ta là Tư Gương, vào du kích từ năm 12 tuổi, sau đó vào bộ đội chiến đấu, đến năm 1986 thì nghỉ hưu. Giờ vợ con cậu ta đang sản xuất, kinh doanh ở Phú Quốc (Kiên Giang). Vậy là từ ngày tôi bị thương đến nay đã 57 năm rồi. Thời gian trôi nhanh quá!

Có thể bạn quan tâm

Bộ Công an hỗ trợ nhà ở cho gia đình ông A Drua tại thôn Kon Teo Đăk Lấp, xã Đăk Pxi.

Không chỉ giữ gìn bình yên mà còn chăm lo mái ấm

Những ngày này, các xã vùng cao Đăk Pxi, Đăk Hà, Đăk Mar (tỉnh Quảng Ngãi) đang đón thêm những công trình an sinh thiết thực. Được triển khai từ sự phối hợp giữa Văn phòng Bộ Công an và Công an tỉnh Quảng Ngãi, các công trình đã góp phần cải thiện đời sống, vun đắp sự gắn bó giữa lực lượng công an với đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây.

Tan ca nhưng chưa hết ca

Cổng khu công nghiệp Quang Minh, đèn đường đã sáng từ lâu. Dòng người ùa ra từ những cánh cổng nhà máy mỗi lúc một đông. Mọi người lao về những hướng quen thuộc, gần như không ai nói chuyện với nhau. Vài quán nước ven đường đã đóng cửa.

Rút ngắn khoảng cách giữa quy định và thực tế

Cùng với sự phát triển của xã hội, công tác xây dựng luật đang có nhiều thay đổi nhanh chóng và tích cực. Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ trong năm 2025 vừa qua, Quốc hội nước ta đã thông qua gần 90 đạo luật. Đây là dấu ấn lịch sử trong quá trình xây dựng và sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp thực tiễn đời sống.

Ấn Độ có khả năng cung cấp nguồn nguyên phụ liệu lớn cho ngành dệt may, giúp doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung. Ảnh: NAM HẢI

Mở rộng không gian hợp tác Việt Nam-Ấn Độ

Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường đang mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ Việt Nam-Ấn Độ. Trên nền tảng tin cậy chính trị được bồi đắp qua nhiều thập niên, hai nước đang đứng trước những cơ hội lớn để chuyển hóa tầm nhìn chung, sự hội tụ chiến lược thành các chương trình hợp tác thực chất trong nhiều lĩnh vực tiềm năng.

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai.

Gia Lai phát huy sức mạnh đại đoàn kết từ bức thư của Bác Hồ

“Tôi tuy xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào” - lời Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946 thể hiện tình cảm sâu nặng với đồng bào và tư tưởng nhất quán về một Nhà nước gắn bó với nhân dân, vì nhân dân. 80 năm qua, tinh thần ấy vẫn đặt ra trách nhiệm chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết và bảo đảm sự phát triển của mọi dân tộc trong cộng đồng Việt Nam.

Không còn chỉ là lãi lỗ

Quán bún đầu ngõ ồn ào từ lúc nào. Nồi nước dùng tỏa khói nghi ngút. Chiếc xe máy vừa dắt ra đã có xe khác điền vào chỗ trống. Bà chủ đứng chắn giữa lối đi, đang phân bua với người đối diện: "Giờ làm gì cũng phải cẩn thận, không như trước được nữa".

Vinh danh những "sứ giả" tiếng Việt. Ảnh: VB

Những mảnh ghép quê hương (kỳ 1)

Ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN), thể hiện sự quan tâm sâu sắc, thường xuyên và nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng NVNONN, khẳng định công tác NVNONN luôn có vị trí quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. NVNONN là lực lượng làm thông tin đối ngoại đặc biệt, cầu nối giữa Việt Nam với thế giới đồng thời tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nghịch lý phí chồng phí

Tôi ở chung cư. Hầm để ô-tô chứa được khoảng 140 chiếc. Ngày nắng ráo, hầm xe còn già nửa. Nhưng mấy hôm nay mưa rả rích suốt, căn hầm gần như trống không. Mua xe mà chỉ được dùng “dè sẻn” khi mưa gió, rét buốt, ấy là cái khổ của nhiều người ở một đô thị quá đông đúc, phố nào cũng “cấm đỗ, cấm dừng” như Hà Nội.

Thiếu tá Trương Mai Hoa và Đại úy Đặng Thị Thanh Phượng được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Vinh dự dưới cờ Đảng ở Bentiu

Với các quân nhân đang thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình LHQ ở Nam Sudan, việc được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời quân ngũ và quá trình phấn đấu của mỗi đồng chí.

Trừng phạt và nhân văn

Gần 100 lỗi vi phạm, trong đó có 96 lỗi vi phạm giao thông và tổng tiền phạt 474,6 triệu đồng là hậu quả một lái xe ở xã Xuân Lũng (Phú Thọ) phải gánh chịu do thiếu ý thức tuân thủ pháp luật. Người này rơi vào tình trạng “khóc dở, mếu dở” khi bị phạt số tiền lớn gấp nhiều lần giá trị chiếc ô-tô “cà tàng” của mình.

Cụ Phí Văn Bái (1914-2014).

Báo Khởi nghĩa và Tuốt kiếm, trước Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội

Ngay trước ngày Tổng khởi nghĩa 19/8/1945 ở Hà Nội đã xuất hiện hai tờ báo của mặt trận Việt Minh có tên gọi Khởi nghĩa và Tuốt kiếm. Một trong hai người chủ nhiệm kiêm chủ bút đầu tiên là cụ Phí Văn Bái (1914-2014), sinh thời trú tại đường Trường Chinh, Thành phố Hà Nội.

Các nhà văn thực tế tại doanh trại Sư đoàn 302.

Dải ngân hà vùng duyên hải

Miền Đông Nam Bộ những ngày cuối tháng 5 nắng nóng. Mùa khô chưa qua, mùa mưa chưa đến. “Cây lúa non chờ từng cơn mưa nhỏ, cây lúa trổ chờ nước đổ trên nguồn”, còn chúng tôi chờ xe Sư đoàn 302 qua đón dưới cơn mưa rực rỡ đầu mùa mong đợi. Cơn mưa dào dạt đến như lời chào mùa hạ, một điềm báo an lành.

Thế giới ảo và những bản án có thật

Trong vài ngày qua, vụ việc tranh cãi giữa những tay “giang hồ” gây náo loạn không gian mạng đã được cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc. Cuộc “livestream” của các đối tượng tại một địa điểm thuộc tỉnh Bắc Ninh đã mang lại kết quả không mấy có hậu cho cả “nạn nhân” lẫn thủ phạm. Cơ quan công an đã khởi tố Nguyễn Văn Hợi (nick mạng là Khánh Sky), Hồ Văn Khoa và sau đó là Trần Đình Tiệp (nick mạng Vua quạt)… những người tham gia trực tiếp vào vụ việc.

Lo cho “thế hệ sandwich”

Đến ngưỡng tuổi 40, mốc được xem là bắt đầu giai đoạn trung niên, trọng tâm câu chuyện giữa tôi và bạn bè hình như đã thay đổi. Chúng tôi vẫn nhắc kỷ niệm xưa, vẫn “chém gió” về thời sự trong nước và thế giới, nhưng cuối cùng bao giờ cũng quay về những lo toan. Lo bố mẹ già, lo con chuyển cấp, lo sức khỏe đi xuống, lo mất việc, lo cơm áo gạo tiền… Sự trải lòng, dù không thay đổi được thực tế, vẫn trở thành nhu cầu tự thân trong cuộc gặp của mỗi chúng tôi.

Hoạt động của Đoàn ngoại giao tại Hà Nội. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Phát huy vai trò tiên phong toàn ngành đối ngoại

“Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra, điều quan trọng nhất là phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Trên tinh thần đó, chúng tôi đang xây dựng và hướng tới một phương châm hành động chung của toàn ngành Ngoại giao: Định hướng đúng - Kỷ luật nghiêm - Chuyên môn giỏi”, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung chia sẻ với báo chí nhân dịp Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 diễn ra từ ngày 1-7/8 tại Hà Nội.

Không quên những người nằm xuống

Không lễ cưới, không giấy đăng ký kết hôn, những gì liệt sĩ Huỳnh Văn Quên để lại cho người yêu chỉ là câu hẹn ước “Thắng trận này, anh sẽ về cưới em”. Nhưng ông Quên mãi mãi không về. 58 năm sau ngày ông hy sinh, bà Nguyễn Thị Lệ, nay vừa được công nhận vợ liệt sĩ, đỏ hoe đôi mắt khi cầm trên tay tấm di ảnh được phục dựng của chồng.

Phương pháp giám định ADN đóng vai trò quan trọng giải mã danh tính cho các liệt sĩ. Ảnh: LÊ MINH

Nỗi đau không của riêng ai

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những vết thương mà nó để lại trên mảnh đất hình chữ S vẫn chưa trọn vẹn lên da non. Giữa những ngày tháng 7 tri ân, lòng người Việt Nam lại quặn thắt khi nhớ về hàng trăm ngàn người con ưu tú vẫn đang nằm lại đâu đó giữa đại ngàn sâu thẳm, dưới lòng sông lạnh lẽo hay mang trên mình tấm bia mộ “chưa biết tên". Đây là “nỗi đau không của riêng ai”, mà là nỗi đau của cả dân tộc cần được chữa lành.

Tặng quà cho Đội quy tập hài cốt liệt sĩ

Tặng quà cho Đội quy tập hài cốt liệt sĩ

Vừa qua tại Khóm 7, xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị, Nhóm Ong chăm (Hà Nội) đã trao tặng 16 suất quà trị giá tương đương 20 triệu đồng cho Đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Đoàn kinh tế - Quốc phòng 337 (Quân khu 4).