Vết thương

Trung tuần tháng 7-1972, trong trận phục kích đánh vào tiểu đoàn Bảo an của địch đến cứu viện cho đồn Tô Ma đang bị Tiểu đoàn 309 của ta bao vây, tôi bị thương khá nặng. Hôm đó, tôi vừa cầm khẩu AK bật dậy, thì một quả M79 của địch nổ phía trước tôi chừng chục mét.

Vết thương

Tôi thấy đau nhói và chân bên trái tê dại. Một mảnh đạn đã găm vào háng tôi. Tôi được đưa về bộ phận quân y của tiểu đoàn sơ cứu. Do đơn vị phải cơ động chiến đấu nên một ngày sau đó tôi được gửi vào trạm y tế của địa phương thuộc xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Nói là trạm y tế nhưng nó chỉ là một cái chòi được lợp bằng lá dừa nước, ẩn mình trong đám dừa nước ven sông Nước Ðục, cách Vàm Kinh Hãng chừng một cây số về phía nam. Trạm có hai người, do chị Bảy - y tá phụ trách và một hộ lý tên là Ba Ngọc. Trong trạm có một vài dụng cụ y tế rất đơn giản như: bơm tiêm, panh, kéo, bông băng, vài lọ cồn và một túi thuốc... Trạm còn có hai bộ vạt, một lu nước, vài cái xoong, hũ gạo và một cái bếp dầu.

Chị Bảy vừa phụ trách trạm vừa làm cán bộ phụ nữ ấp nên chỉ khi có thương binh chị mới có mặt, công việc hằng ngày do Ba Ngọc lo toan.

Phần bị mệt và nhớ đơn vị, phần vì rất ngại mỗi lần Ba Ngọc thay băng và rửa vết thương nên tôi không muốn nằm ở đây. Tôi tự than thân trách phận "sao số mình đen thế, không bị thương chỗ nào lại bị ngay vào háng". Mỗi lần rửa vết thương và thay băng, chiếc quần xà lỏn tôi đang mặc vốn đã quá ngắn, vẫn phải vén lên hết cỡ. Mỗi lần như thế, tôi nhắm nghiền mắt lại và giục Ngọc làm nhanh cho. Có lần Ba Ngọc nghiêm giọng nói với tôi: "Anh mắc cỡ cái nỗi gì. Nếu anh không để em bình tĩnh làm, nhỡ bị nhiễm trùng là phải tháo khớp đó nghe". Nói vậy, nhưng khi mở mắt ra thấy Ngọc quay mặt đi cười ranh mãnh, tôi liền gắt "Cô cười cái gì?".

Hằng ngày, khi mặt trời sắp lặn, thấy tình hình trong vùng không có địch, Ngọc dìu tôi lên chiếc xuồng ba lá, đưa về chiếc chòi ở giữa đồng ngay trên bờ kênh Hãng để tránh phi pháo địch bắn ban đêm. Dìu tôi lên chòi, Ngọc đi lo cơm nước cho hai anh em. Mối quan hệ giữa tôi và Ngọc dần được cải thiện. Chúng tôi nói chuyện với nhau nhiều hơn. Ngọc kể: Quê em ở Rạch Lùm, huyện Mười Tế (Cà Mau). Má sinh được hai anh em. Anh Hai theo ba tập kết ra bắc. Má em bị bom địch sát hại năm 1969 trong một trận càn. Em được chú Bảy Quân - chính trị viên đại đội đóng quân tại Rạch Lùm khi đó đưa theo đơn vị và gửi em về đây. Nghe Ngọc kể tôi thấy ân hận về thái độ đối xử với cô trước đó. Công bằng mà nói, Ngọc khá xinh. Ðôi mắt đen láy của cô như biết cười. Chiếc răng khểnh càng khiến cô có duyên hơn mỗi khi nói chuyện.

Ðêm đêm, tôi kể cho Ngọc nghe về quê hương miền bắc và tuổi học trò của mình cũng như những ngày tháng gian khổ vượt Trường Sơn vào nam chiến đấu. Ngọc chăm chú lắng nghe, thi thoảng thốt lên: "đẹp quá heng anh" hoặc "thật tội nghiệp anh à".

Sáu ngày, kể từ lúc về đến trạm y tế, tôi có thể chủ động đi lại được, nhưng vẫn còn đau nhức. Một buổi tối, tôi bị lên cơn sốt. Toàn thân tôi run bắn lên. Ngọc thật sự lo lắng. Cô tháo băng, lấy đèn pin kiểm tra vết thương của tôi, thảng thốt: "Trời đất, mảnh đạn đang trồi ra đây nè!". Nói rồi Ngọc rửa panh và mấy chiếc lưỡi dao lam để xử lý vết thương cho tôi. Ngọc lấy lưỡi dao lam rạch một đoạn ngắn rồi dùng panh cặp vào mảnh đạn từ từ lôi ra. "Sắp xong rồi, anh giỏi lắm, cố chịu chút xíu nữa nghe". Ngọc luôn miệng động viên tôi như thế. Vì không có thuốc tê nên tôi thấy đau nhức lên tận óc, nhưng nghiến răng chịu đựng. Ngọc rửa vết thương, sát trùng rồi cẩn thận băng lại cho tôi.

Tôi thấy dễ chịu và ngủ thiếp đi sau đó vài giờ. Sáng hôm sau, tuy vẫn còn hâm hấp sốt, nhưng tôi đỡ đau và dễ chịu hơn nhiều. Tối đến, sau khi ăn xong bát cháo, tôi giăng võng, leo lên nằm và ngủ thiếp đi. Tiếng nổ đầu nòng của pháo địch từ chi khu Vị Thanh bắn ra làm tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi mở mắt thì thấy mái tóc của Ngọc đang phủ kín mặt tôi. Mùi thơm ngầy ngậy từ mái tóc Ngọc tỏa ra. Ngọc gục đầu và áp má vào ngực tôi... Hơi thở của em gấp gáp, đứt quãng. Tôi chợt nghĩ, do nhiều đêm thiếu ngủ để chăm lo vết thương cho tôi nên Ngọc quá mệt, thiếp đi. Tôi khẽ lay vai em rồi bảo: "Này, em về sạp ngủ đi cho đỡ mệt, nếu không ngày mai giặc càn vùng này mà bị ốm là gay đấy!". Ngọc nói tỉnh bơ: "Em có ngủ đâu...!". Rồi Ngọc nắm chặt tay tôi đưa lên ngực em. Tay còn lại ôm ghì lấy tôi. Ngọc nói trong hơi thở gấp "Anh...". Tôi vội rút tay lại rồi ngồi dậy. "Thôi em ngủ đi, đêm nay pháo địch bắn nhiều thế này thì mai nó sẽ đổ quân càn vùng này đấy". Ngọc đứng dậy thút thít khóc. Một quả pháo bay ràn rạt qua đầu chúng tôi rồi nổ chát chúa ngoài vàm kênh Hãng khiến đàn chim ăn đêm đồng loạt kêu râm ran cả cánh đồng.

Sang ngày thứ chín, vết thương của tôi đã ổn định, tôi xin chị Bảy và Ngọc trở về đơn vị. Ðó là những ngày cuối tháng 7-1972. Chiều hôm đó, Ngọc đưa tôi xuống mé sông, nơi có chiếc xuồng giao liên đang chờ sẵn ở đó. Trước khi đi Ngọc giúi vào bồng của tôi một lọ dầu gió, một chiếc khăn rằn... Dọc đường Ngọc không nói gì, lúc sắp đến bến, em nắm tay tôi rồi bảo: "Anh đi mạnh giỏi, đừng quên trạm y tế này nghen... Hòa bình nhớ về Rạch Lùm tìm em nhé. Em trông anh nhiều đó nghe!". Rồi Ngọc bật khóc. Cô nói trong tiếng nấc nghẹn ngào: "Anh ác lắm. Người đâu mà trơ như gỗ đá?". Nói xong, Ngọc chạy ngược lại, bỏ tôi một mình trên bến sông đang dào dạt sóng buổi hoàng hôn.

Miền nam hoàn toàn giải phóng, tôi trở ra bắc nên không có dịp về thăm Ngọc và bà con vùng kháng chiến cũ. Tôi thi vào đại học báo chí. Ra trường, tôi xin về công tác ở một tờ báo ngành. Năm 1982, trong một đợt vào Cần Thơ công tác, tình cờ tôi gặp chị Bảy. Khi ấy chị đang công tác ở Hội Phụ nữ tỉnh Cần Thơ. Chị cho hay, Ba Ngọc giờ làm ở phòng y tế của huyện Long Mỹ. Ngay hôm sau, tôi bắt xe đò về huyện Long Mỹ và đến thẳng phòng y tế. Nhận ra tôi, Ngọc từ trong phòng khám lao ra ôm chặt lấy cổ tôi: "Trời đất, anh Út vô hồi nào, mà sao biết em ở đây hay vậy?". Ngọc nói cười ríu rít. Trong đôi mắt của cô gái gần ba mươi tuổi ánh lên niềm hạnh phúc và tự hào. Ngọc kéo tôi về phòng, vừa pha nước vừa hỏi đủ thứ về tôi. Ngọc cho biết, anh Hai của Ngọc đã về đến quê, anh em đã gặp nhau sau bao năm xa cách, hiện giờ anh Hai là cán bộ tham mưu Sư đoàn 4, đóng quân mãi tận Chi Lăng (An Giang). Ngọc nói tiếp, sau giải phóng, em được các bác, các chú ở tỉnh cho lên thành phố học trường y, giờ về làm ở đây. "Thế còn ba?" - Tôi hỏi. Giọng Ngọc trầm hẳn xuống: "Ba em đã hy sinh ở vùng Bảy Núi (An Giang) năm 1974 khi đang trên đường về miền Tây Nam Bộ". Ngừng một lát tôi hỏi Ngọc: "Thế cuộc sống của em thế nào? Ông xã làm gì?". Tôi cứ vô tư hỏi mà không để ý đến thái độ của Ngọc. Yên lặng hồi lâu, Ngọc nghẹn ngào nói với tôi: "Anh đi được khoảng một năm thì giặc càn vào ấp. Ðợt ấy em bị thương vào bụng rất nặng". Ngọc nấc lên, đứng dậy tiến lại ôm chầm lấy tôi: "Em không còn khả năng làm mẹ nữa".

Tôi không tin vào tai mình: "Em nói sao?"

Ngọc không nói gì, em gục đầu vào ngực tôi, khóc không thành tiếng. Tim tôi như bị ai bóp mạnh. Cảnh vật chung quanh tôi bỗng chốc như bị nhòe đi. Tôi nắm bàn tay Ngọc để an ủi em. Bàn tay mềm mại và ấm áp. Chính bàn tay này đã nắm tay tôi đưa lên ngực em dưới tiếng rít của đạn pháo và tiếng kêu râm ran của bầy chim ăn đêm...

Tôi như người mắc nợ Ngọc, một món nợ mà cả cuộc đời tôi sẽ không bao giờ trả được cho em. Giá như...

Sau này, tôi được biết, khi ra trường về phòng y tế huyện công tác, Ngọc đã kết hôn với một sĩ quan quân đội thuộc Trung đoàn 10, Sư đoàn 4, Quân khu 9. Và năm 1984, anh ấy đã hy sinh trên đất bạn Campuchia. Hai năm sau - 1986, Ngọc cũng đổ bệnh và qua đời trong sự tiếc thương của đồng chí, đồng đội, bạn bè và bà con quê hương.

Bao năm tháng đã qua, nhưng quãng đời chiến trận trên mảnh đất cực nam Tổ quốc ấy, khốc liệt, đạn bom, hiểm nguy mà cũng thấm đẫm ân tình, yêu thương ấy vẫn luôn nhắc nhớ, khắc khoải trong tâm trí tôi. Có những đau thương, mất mát đã ghi vào sử sách. Nhưng còn rất nhiều những nỗi đau thầm lặng, những dâng hiến không lời của rất nhiều những người con trung nghĩa của vùng đất Nam Bộ ấy, để Tổ quốc có ngày hôm nay, như Ngọc yêu quý của tôi.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Nguyễn Trọng Định - người đầu tiên từ bên phải qua. Ảnh tư liệu của Nhà báo Trần Mai Hạnh

Người ra đi từ gốc đa Hàng Trống

Trong bức ảnh được chụp ngày 14/7/1968 tại bộ phận tiền phương Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Quảng Đà thuộc địa bàn huyện Duy Xuyên có tám nhà báo thì sau đó bốn người là liệt sĩ, một người là thương binh nặng. Người hy sinh đầu tiên là nhà báo-nhà thơ Nguyễn Trọng Định, phóng viên Báo Nhân Dân, cùng trong tổ phóng viên vào chiến trường Quảng Đà một ngày với tôi", nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh hồi tưởng.
Lần họp lớp gần nhất là chuyến thăm Khu di tích lịch sử Bạch Đằng (Thủy Nguyên, TP Hải Phòng).

Trưởng thành nhờ đất nước và cùng đất nước

Tháng 6/2022 này, sinh viên Khoa Ngữ văn, khóa VIII, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) kỷ niệm 55 năm ra trường. Với lịch sử đất nước, 55 năm không dài. Nhưng quãng thời gian đó đủ để một thế hệ đi từ khởi điểm của tuổi thanh xuân đến cận kề những bậc thang cuối của đời người.

Người dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận thu hoạch trái thanh long. Ảnh: Duy Hiển

Ân tình miền cát

Mảnh vườn đang lên xanh-cái mầu xanh từ những cành thanh long vươn dài-của Quân là hình ảnh sống động và lưu lại đầu tiên trong tâm trí tôi khi về với náo nức đất trời Bình Thuận, trong những ngày cuối năm nhiều cảm xúc.

Nhà báo Trần Lâm.

Mùa thu với hai nhà báo lão thành

Kể từ mùa thu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đông về số lượng và tăng về chất lượng.

Nụ cười ấm giữa ngày giông bão

Thành phố lại vào mùa mưa. Những cơn mưa dầm dề suốt ngày cùng con số ca nhiễm tăng cao, thêm nhiều hình ảnh cay sống mũi, đỏ hoe mắt khiến người thành phố thao thức.

Người dân hẻm 17, đường Gò Dầu (phường Tân Quý, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh) đi chợ tại "Gian hàng 0 đồng sẻ chia cùng khu cách ly". Ảnh: HUẾ XUÂN

Sài Gòn ân nghĩa

Không ai hiểu rõ Sài Gòn bằng chính người Sài Gòn. Sự hào sảng, nghĩa tình, lạc quan của thành phố này đã khiến cái sự “trọng thương” mà người nơi khác ví von đã không còn là một cảm thán tội nghiệp. Tự bản thân người nơi đây sẽ biến nó thành một sự khích lệ, động viên, là một ân tình lớn lao, mà có lẽ phải trải qua “mùa dịch bệnh”, người ta mới càng thật sự thấm thía hết ý nghĩa của từ này.

Trái tim của tôi

Trái tim của tôi

Sau nhà tôi hồi xưa có một cái khe núi. Nhà tôi đã ở gần khe núi rồi, nhưng vẫn chưa phải là nhà cuối cùng. Cuối cùng là nhà một người Tày, nằm tận cửa khe núi luôn. Vào mùa đông, khe gần như cạn, những tảng đá to như lưng trâu nằm trơ trơ ra. Nhưng cuối xuân, đầu hè, khi những tiếng sấm bắt đầu ì ùng và mưa rào trút xuống, thì nước bắt đầu chảy len lỏi qua những khe đá, và đầy dần lên. Nếu mưa kéo dài chừng nửa ngày thì dòng suối sẽ như một con thuồng luồng dài ngoằng, dữ dội, lạnh lùng, cuốn phăng theo nó tất cả những gì nằm lổng chổng ven đường.

Miền sen và làng cổ

Làng cổ Nha Xá, xã Mộc Nam, Hà Nam nổi tiếng với những nếp nhà cổ và nghề dệt lụa. Người làng tự hào lắm một vùng quê yên bình, nằm giữa hệ thống ao, đầm sen rộng bát ngát.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, bộ đội ta cầm cờ tiến vào Dinh Ðộc Lập. Ảnh: Vũ Tạo - TTXVN

Chiều 30 tháng 4, chúng tôi đến Sài Gòn

14 giờ ngày 30/4/1975, trên chiếc xe Jeep "lùn", chúng tôi - nhóm phóng viên báo Chiến sĩ Giải phóng - Quân đoàn 2, vào tới dinh Ðộc Lập. Lúc này sân trước Dinh đang ồn ã với số đông phóng viên báo chí và cán bộ, chiến sĩ ta.

Minh họa: THU HÀ

Cúi đầu trước núi

Tự dưng lúc này đây, khi đang ngồi dưới chân một dãy núi Tây Nguyên mà trong tôi lại trào lên cảm thức về những ngọn núi. Ðó có thể là nỗi ám ảnh mang mạch thở linh sơn đâu đó trong tâm tưởng. Ngắm núi mà muốn thốt lên lời tự lòng mình, ơi những chóp đỉnh cao vời, cho tôi xin được ngàn lần cúi đầu ngưỡng vọng…    

Tinh khôi hoa trắng

Về quê tôi dịp này có thể dễ dàng bắt gặp ở khắp các lối ngõ, bờ ao bừng lên một mầu trắng muốt tinh khôi của hoa dành dành. Mùi hương ngọt nồng dẫn lối đưa đường, dụ bao bướm ong dập dìu tụ tìm hút mật. Khi dành dành vào kỳ trổ hoa, ấy là mùa xuân cũng chuẩn bị khép lại.

Hà Nội mùa cây thay lá

Hà Nội mỗi mùa mang một sắc, mỗi con phố nhuốm một màu, thảy tất bốn mùa đều để lại cho ta cảm nhận những nét đẹp bâng khuâng trong sâu thẳm lòng mình mà khó có nơi nào có được. 

Cải vàng gọi nắng triền sông

Cuối năm, gió đã chuyển mình, cái rét len lỏi đâu đó trong từng nhành cây, ngọn cỏ. Hoa cải vào mùa, xôn xao rực vàng nơi triền sông vắng. Buổi chiều bỗng dài ra, lũ bướm ong tíu tít, mải mê bay lượn đến quên cả lối về.

Những ô cửa phố

Dịp cuối thu đầu đông, hương hoa sữa nồng nàn tỏa. Tôi có thói quen dạo phố một mình chỉ để nhẩn nha ngắm những ô cửa sổ, đôi khi ngỡ ngàng bởi chỉ là ô cửa sổ thôi cũng quá nhiều kiểu dáng thiết kế và mầu sắc trang trí. Rất nhiều ô cửa sổ nhìn ra đường, bên những ban-công được trồng nhiều khóm hoa xinh xắn. Người ta bảo đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, cửa sổ có lẽ cũng là đôi mắt của ngôi nhà. Cửa sổ tạo mỹ quan cho không gian chung cả tuyến phố. Ở Hà Nội, các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Gia Thiều… còn hiện diện nhiều ô cửa sổ nhuốm thời gian. Ở đó còn nhiều biệt thự cổ kính, những bức tường loang mầu hoài niệm, khi ấy những ô cửa như cũng trầm ngâm ưu tư, gợi nhắc về bao kỷ niệm xưa xa. Giữa một thành phố đông đúc, có lúc tắc đường đến ngộp thở, thì mỗi ô cửa này như những nốt nhạc trầm, đọng lại vẻ thi vị, thân thương

Mùa đông của cha

Ký ức sâu đậm trong chị về cha, gắn với thời tiết theo mùa. Tuổi ấu thơ của chị là những đêm hè lặng gió, oi nồng. Cha ngồi quạt đổi tay cho ba chị em đến khuya. Nhiều đêm, cha gần như không ngủ. Dạo ấy, điện là thứ xa xỉ, chỉ được dùng để thắp sáng trong mấy ngày Tết; còn lại, đèn dầu “làm bạn” với mọi nhà quanh năm, suốt tháng.

Bán thổ cẩm ở chợ Si Ma Cai. Ảnh: TUẤN LỢI

Si Ma Cai lên phố

Tháng 11-1966, xã Si Ma Cai (Lào Cai) được thành lập trên cơ sở ba thôn, gồm Phố Thầu, Phố Cũ, Phố Mới. Gọi là Phố nhưng thực chất ở đây, ngoài phiên chợ chủ nhật đông đúc, một dãy phố người Hoa ở phố cũ, Đồn Biên phòng, thì chỉ có mấy ngôi nhà gỗ dựng rải rác, vài cửa hàng mua bán đổi chác nông, lâm sản và vật dụng thiết yếu… song ba cái tên đã thể hiện khát khao lên phố của đồng bào. Qua nhiều năm xây dựng, phát triển, ngày 11-2-2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ra quyết định thành lập thị trấn Si Ma Cai thuộc huyện Si Ma Cai.

Đỗ Đức Thắng (bên phải) và Hồ Văn Quang trong trận tiến công Đồi Đá, cao điểm 544 Phu Lơ, xã Cam Tuyền, Cam Lộ, Quảng Trị, tháng 4-1970. Ảnh: ĐOÀN CÔNG TÍNH

Người trong ảnh

Đến thăm các bảo tàng lịch sử ở Hà Nội và Thành cổ Quảng Trị, tôi đã nhìn thấy bức ảnh này: Hai người lính thông tin đang trong trận đánh đối mặt trực diện lực lượng địch. 

Đường hoa

Trời dịu nắng rủ tôi về làng, với những thân thương mà suốt thời tuổi thơ tôi và bạn bè đồng lứa có những trò chơi trẻ dại. Bao năm xa quê, có người phần nào “mất gốc” nhưng có những người vẫn đong đầy những ô vuông ký ức về làng như một thứ tài sản, soi mình vào hình ảnh của làng, của phố hay những cung đường đi qua để trân quý những vẻ đẹp thân thương, và để sống tốt hơn.

Nước mắt của nữ chiến binh

Cô rất hay khóc. Tôi cũng hiểu. Dẫu cô nam tính, dẫu cô theo cách gọi cường điệu của tôi là một nữ tướng thì tướng vẫn có nước mắt.

Ngôi sao tháng bảy

Ngày tháng bảy bời bời xúc động khi cùng các bạn trẻ đoàn thanh niên của xã đến thăm mẹ. Mẹ là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, là niềm tự hào của xã Anh hùng quê tôi - một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, giàu lòng yêu nước, đã dâng hiến nhiều người con ưu tú cho Tổ quốc. Người dân quê chúng tôi vẫn thân thương gọi mẹ Hiền là bà Hến. Mẹ Hiền hiền lắm. Hiền như hoa trái trong vườn. Hiền như tên gọi mà mỗi khi cất lên đã chất chứa niềm nhân hậu.

Hoa ngọc lan vườn mẹ

Nhà tôi ở trong phố nên đất rất chật, mặt trước và mặt sau của ngôi nhà dài như ống tay áo, mẹ tôi cho người ta thuê để bán hàng. Ngõ dẫn vào khu giữa ngôi nhà nơi gia đình tôi sinh sống nhỏ như sợi chỉ khâu ở viền ống tay áo.

 Tượng đài Bác Hồ trên đảo Cô Tô (Quảng Ninh) Ảnh: Phạm Học

Mãi còn lưu dấu

1. Năm 1970, Tòa soạn báo Vùng mỏ chúng tôi được ông Ðỗ Thế Việt, cán bộ kháng chiến hoạt động ở khu mỏ Hồng Gai chuyển tới tấm thiếp của Bác Hồ gửi công nhân khu mỏ Hồng Gai năm 1953. Trong thư gửi kèm, ông Việt viết: "… Năm 1951, Công đoàn đặc khu Hồng Gai chúng tôi có gửi lên Việt Bắc biếu Bác Hồ một chiếc màn (quà biếu của một chị công nhân) và một bức tượng Bác bằng than đá do anh Trần Văn Mão, thợ mỏ Cẩm Phả tạc trong những ngày anh làm phu xe cuốc. Thì tháng 3-1953, Công đoàn đặc khu Hồng Gai nhận được tấm thiếp này của Bác Hồ từ Việt Bắc gửi về cảm ơn. Nay tôi thấy cần phải gửi về cho các đồng chí, mong được giới thiệu lại với công nhân khu mỏ về một bút tích quý giá của Bác…".

Nhật ký của một người Công giáo

Nhật ký của một người Công giáo

Cuối cùng tôi cũng đã tìm được nhà anh Triệu ở một phố hẻm quận Tân Bình. Sài Gòn mới được giải phóng. Thành phố tôi lần đầu đặt chân, nhưng lòng thì đã đến.

Những mùa hoa đậu biếc

Tôi nhận ra mầu tím hoa đậu biếc đang lấp lánh trong ly trà trước mặt mình. Trà hoa đậu biếc. Mầu tím ấy, thức dậy ký ức một thời tuổi thơ tôi trong vắt, bình yên.

Công suất các khu xử lý rác hiện nay chưa đáp ứng để thu gom và xử lý triệt để rác thải trên địa bàn thành phố.

Gỡ nút thắt quy hoạch, xử lý rác thải ở Hà Nội

Kỳ 2: Rà soát năng lực, đẩy nhanh tiến độ thực hiện

(Tiếp theo và hết)

Trong Quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2030 được Chính phủ phê duyệt từ tháng 10-2016, đã tính đến sự phối hợp vùng trong xử lý rác thải một số tỉnh chung quanh Thủ đô. Vấn đề quan trọng nhất là sự đồng thuận của nhân dân, nỗ lực của các cơ quan chức năng, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện dự án.

Những sắc thái của trường ca

Nghĩ về trường ca Việt Nam hiện đại, tôi rất tâm đắc với ý kiến của TS Chu Văn Sơn: "Khi thơ trữ tình muốn trình bày những suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chí, kỳ vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn, khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kỳ vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng". Sau ngày đất nước thống nhất, trường ca ngày càng nở rộ. Có một thế hệ những nhà thơ đã đi qua chiến tranh và tìm đến trường ca như một cuộc đại kiểm kê, một lời tâm sự lớn trước những biến cố lịch sử: Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Nguyễn Ðức Mậu, Từ Nguyên Tĩnh, Lê Mạnh Tuấn, Phạm Hồ Thu, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo, Trần Anh Thái, Thi Hoàng… Và, những người trẻ tuổi hơn đang tiếp nối mạch nguồn thể loại ấy hôm nay: Nguyễn Quang Hưng, Ðoàn Văn Mật, Lý Hữu Lương, Thy Nguyên…