Tôi đã dịch tập thơ "Cốm non" của Lâm Thị Mỹ Dạ như thế nào?

Cốm non, cũng như sự nghiệp viết lách của Lâm Thị Mỹ Dạ, bắt đầu với cái mà người Mỹ gọi là Chiến tranh Việt Nam. Sinh năm 1949 tại miền Trung Việt Nam, Lâm Thị Mỹ Dạ trải qua thời chiến tranh kề bên những cuộc giao tranh dữ dội nhất. Mặc dù có hai bài thơ viết về mất mát của chiến tranh qua con mắt người khác - một người lính Mỹ và một cô bảo mẫu - hầu hết thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giai đoạn này dựa trên những trải nghiệm cá nhân của tác giả, biểu đạt qua tình cảm gắn bó của chị với phong cảnh, cỏ cây của đất nước chị. Sự liên tưởng giữa chùm bom với chùm ổi trong bài Hương vườn mở đầu tập sách tạo nên một sức nén tĩnh lặng kỳ lạ chỉ qua bốn câu thơ, còn ở bài Gặt đêm sau đó, Màu vàng bom bi lẫn trong mầu vàng của lúa chỉ trong một dòng thơ.

Nhưng thơ chị còn có nhiều sức nén khác. Một sợi chỉ tự sự mỏng manh theo đuổi nhà thơ qua những lĩnh vực truyền thống của cuộc đời người phụ nữ, như tình yêu, tình mẹ, và đôi khi cả những biến đổi khó khăn trước tuổi trung niên... Không khác nhiều nhà thơ nữ Hoa Kỳ đương đại, Lâm Thị Mỹ Dạ khảo sát những giới hạn của vai trò người phụ nữ truyền thống, thường để thấy mình cô đơn. Không khác các nhà thơ Mỹ, nhưng có lẽ trên một nền tảng văn hóa lâu đời hơn, chị cũng biểu dương sức mạnh của những người phụ nữ khác, trong đó có cả mẹ đẻ của chị, như trong bài Bạn gái.

Dòng chảy thời gian vừa là một cảm thức quan trọng vừa là một thủ pháp chính trong nhiều bài thơ, như bài Bên tượng Mỵ Châu, trong đó chị đem những trải nghiệm của bản thân mình vào lịch sử xa xưa để kể lại một cách đầy thương cảm chuyện cô gái trẻ đã vô tình phản bội dân tộc.

 

Đôi lúc, nhà thơ ngoái lại quá khứ gần gũi hơn để mà nuối tiếc. Khi Năm tháng dày thêm xa dần tuổi nhỏ, trong một bài thơ tương đối sớm, chị cố tìm kiếm Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm. Nhưng sẽ không thể có sự nuối tiếc ấy nếu như quá khứ không gần gũi và hiện diện sâu sắc như vậy. Đời đến lúc cỗi già/Ta mãi thơ ngây - Chị viết trong một bài thơ gần đây - Ta thành trái mà hồn còn như lá/Cứ xanh hoài chồi biếc thuở non tơ...

Mặc dù ít tính nhục cảm hơn phong cách của nữ sĩ thế kỷ 17 Hồ Xuân Hương, sự liên tưởng giữa hình ảnh choáng ngợp của Vịnh Hạ Long với một Người tình hư ảo cũng tạo một hiệu quả tương tự: người đọc bối rối không rõ chủ đề thực của bài thơ là phong cảnh hay một người tình trong mộng?

Cùng trải nghiệm thế giới với Lâm Thị Mỹ Dạ qua những hình ảnh được chị cảm nhận một cách sâu sắc, chúng ta có thể nối tiếp nhà thơ để "mô phỏng" thiên nhiên theo cách từng được William Carlos Williams mô tả - sự mô phỏng sẽ giúp ta "trở thành thành tố của chính quá trình" đó...

Tôi gặp Lâm Thị Mỹ Dạ ở Huế, vào năm 1994. Trước đó tôi đã đọc và thích mấy bài thơ được dịch ra tiếng Anh của chị. Tôi nói với chị rằng tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ có thể dịch những bài thơ khác của chị. Nói vậy, nhưng khi đó cũng chẳng biết sẽ thực hiện như thế nào: Dạ có biết đôi chút tiếng Anh và tôi từng học tiếng Việt, nhưng ngay cả trong những câu chuyện thông thường nhất chúng tôi vẫn cần có người giúp. Rất may, Tô Diệu Linh (nay là Linh Tô Green), người giúp phiên dịch cho chúng tôi, đã quen biết nhà thơ từ nhiều năm trước. Ít năm sau đó, khi Linh đến Boston để theo học chương trình cao học, cô đã cùng tôi dịch những bài thơ đầu tiên.

Mùa hè năm 2000, Lâm Thị Mỹ Dạ đến Boston để tham dự trại viết của Trung tâm William Joiner. Lần ấy, Đinh Thúy, một nhà văn Mỹ gốc Việt đang hành nghề luật sư Washington D.C. cũng đến dự trại để hoàn thành một tác phẩm ký. Thúy đã quấn quýt với Dạ trong phần lớn thời gian hai tuần ở trại, thường kiêm luôn vai trò phiên dịch khi cả ba chúng tôi gặp nhau, chọn thơ và dịch một số bài. Từ đó, Thúy và tôi cộng tác với nhau.

Mới đầu, Thúy bao giờ cũng là người làm bản "dịch thô" gửi tôi kèm theo những chú giải kỹ lưỡng. Một mặt, chị giải thích cho tôi những khía cạnh văn hóa mà tôi có thể không biết. Mặt khác, với vốn kiến thức văn học của mình, chị có thể giúp tôi tìm kiếm những giọng điệu tương đương, điều rất bổ ích cho tôi khi hoàn thiện bản dịch.

Đồng thời, tôi cố gắng sử dụng vốn tiếng Việt hạn chế của mình để dò từng chữ và thực hiện những bản dịch word-by-word. Việc này buộc tôi phải dừng lại để ngẫm nghĩ, để lắng nghe từng dòng thơ, để cảm nhận âm vang của từng chữ trong câu thơ. Dần dần, đến lượt tôi trở thành người thường dịch thô trước để gửi Thúy. Nhưng dù ai là người dịch thô, chúng tôi đều trao đổi thường xuyên, bàn bạc cho đến khi cả hai cảm thấy hài lòng.

Tập Cốm Non bao gồm năm mươi sáu bài thơ được lựa chọn lại từ một tuyển tập do chính tác giả lựa chọn. Nửa đầu tập là những bài rút từ ba tập thơ đầu, xuất bản trong khoảng thời gian từ 1974 đến 1990. Sáu bài, từ bài Cái tổ chim, rút từ tập Mẹ và con, xuất bản năm 1994, trong đó một số bài lấy chất liệu từ ngôn ngữ của con gái tác giả. Các bài còn lại, trừ hai bài Màu phố phái Tháng Giêng viết gần đây, đều rút từ tập Đề tặng một giấc mơ, in năm 1998.

Sự cộng tác dịch cuốn sách này mang nhiều ý nghĩa thú vị: tập thơ do một phụ nữ Việt Nam bắt đầu sáng tác trong cuộc chiến tranh Việt Nam, và nó được dịch sang tiếng Anh bởi một nhà văn nữ Hoa Kỳ gốc Việt, người rời khỏi Việt Nam khi chiến tranh kết thúc, và một nhà thơ Hoa Kỳ từng phản đối cuộc chiến tranh ấy khi còn biết rất ít về nơi cuộc chiến nổ ra. Nói như lời Lâm Thị Mỹ Dạ trong bài Bạn gái, quá trình dịch thuật này chính là cách chia cùng ngọt, đau.

Biết rằng không bản dịch nào có thể sánh được với nguyên tác, nhưng tôi hy vọng rằng bản tiếng Anh sẽ giúp cho bạn đọc Hoa Kỳ tiếp cận được những đóng góp của một người phụ nữ vào một nền văn học mà (thật đáng buồn) vẫn còn rất ít được giới thiệu ở Hoa Kỳ.

...............

Cốm non - Martha Collins và Đinh Thúy dịch

Curbstone Press và WJC for Study of War and Social Consequences xuất bản, 2005

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.