Tạo dựng những giá trị
Từ những cánh đồng trồng lạc của bà con Khmer ở xã Ngũ Lạc đến các mô hình nuôi tôm sú và tôm càng xanh quảng canh tại phường Trường Long Hòa và phường Duyên Hải (thuộc địa bàn tỉnh Trà Vinh cũ, nay là tỉnh Vĩnh Long), những thay đổi trong ba năm qua không chỉ được đo bằng năng suất hay thu nhập mà còn bằng nhiều giá trị. Đó là: Sự tự tin của người dân khi làm chủ kỹ thuật mới, sự gắn kết của các tổ hợp tác và vai trò ngày càng rõ nét của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trên đây là những kết quả nổi bật của dự án Phát triển cộng đồng Trà Vinh (CDP Trà Vinh), được Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV triển khai từ tháng 8/2023 đến tháng 7/2026.
Chương trình được Công ty Cổ phần Điện gió Trà Vinh 1 (TWPC) tài trợ, với các nhà đầu tư bao gồm ST International và Climate Investor One - một quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo được Liên minh châu Âu (EU) hỗ trợ và do Climate Fund Managers quản lý và do SNV thực hiện.
Hoạt động tổng kết dự án là dịp nhìn lại những thành quả, chia sẻ bài học kinh nghiệm và khẳng định cam kết tiếp tục phát huy các giá trị mà dự án đã tạo dựng.
Đồng hành cùng cộng đồng trên hành trình phát triển bền vững
Tiếp nối chương trình cải thiện nước sạch và vệ sinh cộng đồng triển khai năm 2022, dự án CDP Trà Vinh được xây dựng trên ba trụ cột. Đó là: Thúc đẩy sản xuất bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu; Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp-thủy sản bao trùm; Thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền kinh tế cho phụ nữ.
Thông qua đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, mô hình trình diễn, phát triển tổ hợp tác, kết nối thị trường và hỗ trợ tiếp cận nguồn lực, dự án góp phần xây dựng nền tảng để cộng đồng tiếp tục phát triển sinh kế sau khi dự án kết thúc.
Trong ba năm triển khai, dự án CDP Trà Vinh đã tiếp cận và thu hút gần 1.200 lượt người tham gia các hoạt động phát triển sinh kế, nâng cao năng lực và thúc đẩy bình đẳng giới tại địa phương.
Ở lĩnh vực nâng cao năng lực sản xuất, 555 hộ nông dân đã tham gia các khóa tập huấn, chương trình tham quan học tập và các hoạt động chuyển giao kỹ thuật, trong đó 46% là phụ nữ. Thông qua các hoạt động này, người dân được tiếp cận các quy trình sản xuất bền vững, kỹ thuật canh tác và nuôi trồng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Để tăng cường liên kết sản xuất, dự án đã phối hợp thành lập và duy trì 7 tổ hợp tác với hơn 200 thành viên, trong đó 28% là phụ nữ. Các tổ hợp tác là nơi giúp người dân cùng học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, tiếp cận thị trường và là đầu mối quan trọng liên kết với các công ty thu mua, chế biến, hình thành nên các chuỗi giá trị về lạc (đậu phộng) và thủy sản, mang lại lợi ích cho người dân và các bên tham gia.
Thông qua các mô hình sinh kế do dự án hỗ trợ, nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm quảng canh và tôm dưới tán rừng, các hộ tham gia nhận mức tăng lợi nhuận bình quân từ 8,3 đến 20,7 triệu đồng/ha/năm. Với nhóm trồng lạc, nhiều hộ ghi nhận mức tăng lợi nhuận trung bình 10,3 triệu đồng/ha.
Bên cạnh đó, dự án đã hỗ trợ 30 hộ chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm càng xanh kết hợp đa loài (tôm sú, cua và cá), mang lại lợi nhuận bình quân 112 triệu đồng/ha/năm.
Bình đẳng giới và trao quyền kinh tế cho phụ nữ được lồng ghép xuyên suốt quá trình triển khai dự án. 723 người dân đã tham gia các hoạt động nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và trao quyền kinh tế cho phụ nữ. Đồng thời, dự án đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, phường, thiết lập Quỹ Phụ nữ phát triển kinh tế và đã hỗ trợ cho 70 phụ nữ mở rộng sản xuất, phát triển sinh kế và nâng cao thu nhập cho gia đình.
Những kết quả này cho thấy dự án không chỉ góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân mà còn tạo nền tảng để các tổ hợp tác tiếp tục duy trì hoạt động, tăng cường liên kết thị trường và phát triển bền vững sau khi dự án kết thúc.
Tại xã Ngũ Lạc (tỉnh Vĩnh Long), dự án hỗ trợ nông dân áp dụng giống mới, kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa và liên kết với doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và mở rộng đầu ra cho sản phẩm.
"Tôi tham gia tổ hợp tác đã 3 năm. Nhờ được tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật, tôi biết cách bón phân, sử dụng phân bò và chăm sóc cây đậu phộng hiệu quả hơn. Năm nay, tôi thu hoạch gần 2 tấn, cao hơn những năm trước và cuộc sống cũng khấm khá hơn. Tôi rất cảm ơn tổ hợp tác và dự án đã giúp chúng tôi có thêm kiến thức và kinh nghiệm", chị Thạch Thị Rệch, thành viên tổ hợp tác trồng đậu phộng Đoàn Kết, ấp Sóc Ớt, xã Ngũ Lạc, chia sẻ.
Tại các vùng nuôi thủy sản, dự án thúc đẩy các mô hình nuôi tôm thích ứng với điều kiện địa phương, tăng cường chia sẻ kỹ thuật và liên kết giữa các thành viên tổ hợp tác.
"Trong 3 năm qua, dự án đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cho tổ hợp tác nuôi tôm càng xanh ở ấp Mé Láng. Bà con thường xuyên được tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và từng năm đều tích lũy thêm kinh nghiệm trong quá trình nuôi. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mô hình nuôi tôm càng xanh vào mùa nước ngọt đã cho năng suất tốt, giúp mỗi thành viên có lãi từ vài chục đến hơn một trăm triệu đồng mỗi năm. Sau khi dự án kết thúc, chúng tôi vẫn sẽ duy trì và phát triển tổ hợp tác, hướng tới thành lập hợp tác xã để tạo việc làm và thu nhập ổn định hơn cho bà con. Chúng tôi cũng mong tiếp tục nhận được sự đồng hành của chính quyền địa phương trong quá trình này", ông Huỳnh Văn Bé, Tổ trưởng tổ hợp tác nuôi tôm càng xanh Mé Láng cho biết.
Trao quyền và khuyến khích sự tham gia của phụ nữ
Thông qua các hoạt động truyền thông, tập huấn về bình đẳng giới, Quỹ Phụ nữ phát triển kinh tế và nâng cao năng lực lãnh đạo, dự án góp phần mở rộng cơ hội kinh tế cho phụ nữ và khuyến khích sự tham gia của họ vào các quyết định trong gia đình và sản xuất.
Trong ba năm triển khai, dự án CDP Trà Vinh đã phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Trường Long Hòa để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và nâng cao năng lực thông qua các hoạt động tập huấn về bình đẳng giới và sinh kế. Nguồn vốn xoay vòng của dự án cũng góp phần thành lập hai tổ hợp tác tại Cồn Tàu và Cồn Trứng trong lĩnh vực trồng hoa màu và nuôi trồng thủy sản. Qua đánh giá thực tế, các mô hình đều mang lại hiệu quả tích cực và được chị em đánh giá cao. "Chúng tôi mong những sáng kiến như vậy sẽ tiếp tục được nhân rộng để đồng hành cùng phụ nữ địa phương trong phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu", chị Phan Thị Thảo Ly, Đảng ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường, kiêm Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ phường Trường Long Hòa ghi nhận.
Là doanh nghiệp hoạt động tại địa phương, TWPC không chỉ đầu tư vào phát triển năng lượng tái tạo mà còn đồng hành cùng cộng đồng thông qua các sáng kiến phát triển bền vững. Sự phối hợp giữa TWPC, SNV, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và người dân đã tạo nên một mô hình hợp tác nhiều bên, hướng tới những tác động lâu dài.
Ông Phạm Xuân Tuấn, Quản lý An toàn-Môi trường-Xã hội tại TWPC cho biết, sứ mệnh cốt lõi của TWPC không chỉ dừng lại ở việc cung cấp năng lượng gió sạch, mà còn là kiến tạo những giá trị bền vững cho cộng đồng sở tại. Dự án CDP Trà Vinh là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn của đơn vị trong việc xây dựng các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy bình đẳng giới.
Còn theo bà Roxanne Adbulali (Quản lý Chương trình Nông nghiệp-Thực phẩm tại SNV Việt Nam), Dự án CDP Trà Vinh đã cho thấy vai trò quan trọng của khu vực tư nhân trong phát triển cộng đồng khi nguồn lực đầu tư được kết hợp với chuyên môn kỹ thuật, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và sự tham gia chủ động của người dân. Bà hy vọng sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp nhìn thấy giá trị của việc đầu tư vào sinh kế bền vững, không chỉ như một đóng góp cho sự phát triển của địa phương, mà còn là cơ hội để tăng cường khả năng chống chịu và thúc đẩy sự phát triển lâu dài của chính những cộng đồng nơi doanh nghiệp đang hoạt động.
Khi dự án khép lại, các tổ hợp tác, mạng lưới liên kết thị trường, kiến thức kỹ thuật và năng lực cộng đồng được hình thành trong suốt ba năm qua sẽ tiếp tục được phát huy. Những nền tảng này sẽ góp phần giúp người dân nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển sinh kế bền vững và tạo thêm nhiều cơ hội cho phụ nữ cũng như thế hệ trẻ.