Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII

Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).

Quyết định nêu rõ phạm vi, ranh giới quy hoạch: Quy hoạch phát triển nguồn điện và lưới điện truyền tải ở cấp điện áp từ 220 kV trở lên, công nghiệp và dịch vụ về năng lượng tái tạo, năng lượng mới trên lãnh thổ Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm cả các công trình liên kết lưới điện với các quốc gia láng giềng.

Phấn đấu điện thương phẩm năm 2030 đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh

Mục tiêu cụ thể là cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10,0%/năm trong giai đoạn 2026-2030, khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2031-2050.

Trong đó, điện thương phẩm: Năm 2030 đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh; định hướng năm 2050 đạt khoảng 1.237,7-1.375,1 tỷ kWh.

Điện sản xuất và nhập khẩu: Năm 2030 đạt khoảng 560,4-624,6 tỷ kWh; định hướng năm 2050 khoảng 1.360,1-1.511,1 tỷ kWh.

Công suất cực đại: Năm 2030 khoảng 89.655 - 99.934 MW; năm 2050 đạt khoảng 205.732 - 228.570 MW.

Phấn đấu đến năm 2030 có 50% các tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu (phục vụ tiêu thụ tại chỗ, không bán điện vào hệ thống điện quốc gia).

Về chuyển đổi năng lượng công bằng, sẽ phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo (không bao gồm thuỷ điện) phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 28-36% vào năm 2030. Định hướng đến năm 2050 tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 74-75%. Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, đủ khả năng tích hợp, vận hành an toàn hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn.

Về phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo, dự kiến đến 2030, hình thành 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng bao gồm sản xuất, truyền tải và tiêu thụ điện; công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ liên quan, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng như Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Bộ khi có các điều kiện thuận lợi.

Phát triển các nguồn điện từ năng lượng tái tạo và sản xuất năng lượng mới phục vụ xuất khẩu sang Singapore, Malaysia và các đối tác khác trong khu vực. Phấn đấu đến năm 2035, quy mô công suất xuất khẩu điện đạt khoảng 5.000 - 10.000 MW, có thể cao hơn tùy theo nhu cầu của bên nhập khẩu trên cơ sở có hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng trong nước và an ninh quốc phòng.

Phát triển tối đa nguồn điện từ năng lượng tái tạo

Về phương án phát triển nguồn điện, Quyết định nêu rõ: Phát triển tối đa nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối...), tiếp tục gia tăng tỷ trọng của năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện và điện năng sản xuất.

Cụ thể, đẩy mạnh phát triển điện gió trên bờ, gần bờ và ngoài khơi, điện mặt trời, đặc biệt là điện mặt trời mặt nước phù hợp với khả năng hấp thụ của hệ thống, khả năng giải tỏa công suất của lưới điện, giá thành điện năng và chi phí truyền tải hợp lý gắn với bảo đảm an toàn vận hành và tính kinh tế chung của hệ thống điện, tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng lưới điện hiện có.

Ưu tiên, khuyến khích phát triển điện gió, điện mặt trời (trong đó có điện mặt trời trên mái nhà dân, trung tâm thương mại, mái các công trình xây dựng, mái nhà xưởng, khu công nghiệp, điện mặt trời tại các cơ sở sản xuất kinh doanh) tiêu thụ tại chỗ, không đấu nối hoặc không bán điện vào lưới điện quốc gia. Phát triển điện mặt trời tập trung phải kết hợp với lắp đặt pin lưu trữ với tỷ lệ tối thiểu 10% công suất và tích trong 2 giờ.

Đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066-38.029 MW

Đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066 - 38.029 MW (tổng tiềm năng kỹ thuật ở Việt Nam khoảng 221.000 MW). Ưu tiên bố trí các nguồn điện gió quy hoạch mới tại các địa phương có tiềm năng gió tốt, điều kiện kinh tế khó khăn.

Phát huy tối đa tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của nước ta (khoảng 600.000 MW) để sản xuất điện và năng lượng mới: Tổng công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước đạt khoảng 6.000-17.032 MW, dự kiến vận hành giai đoạn 2030-2035. Định hướng đến năm 2050 đạt 113.503 - 139.097 MW.

Ước tính công suất nguồn điện gió ngoài khơi để sản xuất năng lượng mới vào khoảng 15.000 MW vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050.

Tiềm năng điện mặt trời của Việt Nam khoảng 963.000 MW

Tiềm năng điện mặt trời của Việt Nam khoảng 963.000 MW (mặt đất - 837.400MW, mặt nước - 77.400 MW và mái nhà - 48.200 MW). Đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không tính đến các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) đạt 46.459-73.416 MW; định hướng đến năm 2050, tổng công suất 293.088-295.646 MW.

Bên cạnh đó, ưu tiên, khuyến khích phát triển các loại hình điện sinh khối, điện sản xuất từ rác, chất thải rắn nhằm tận dụng phụ phẩm nông lâm nghiệp, chế biến gỗ, thúc đẩy trồng rừng, xử lý môi trường ở Việt Nam. Năm 2030, tổng công suất nguồn điện sinh khối khoảng 1.523 - 2.699 MW; điện sản xuất từ rác, chất thải rắn khoảng 1.441-2.137 MW; điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 45 MW. Định hướng đến năm 2050, điện sinh khối khoảng 4.829-6.960 MW; điện sản xuất từ rác, chất thải rắn khoảng 1.784-2.137 MW; điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 464 MW.

Khai thác tối đa tiềm năng các nguồn thủy điện

Quyết định cũng nêu rõ: Khai thác tối đa tiềm năng kinh tế - kỹ thuật các nguồn thủy điện (tổng tiềm năng tối đa ở Việt Nam khoảng 40.000 MW) trên cơ sở bảo đảm môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước. Mở rộng có chọn lọc các nhà máy thủy điện hiện có để dự phòng công suất; khai thác thủy điện trên các hồ thủy lợi, hồ chứa nước để tận dụng nguồn thủy năng. Tới năm 2030, tổng công suất các nguồn thủy điện, bao gồm cả thủy điện nhỏ đạt 33.294 - 34.667 MW, định hướng năm 2050, tổng công suất đạt 40.624 MW.

Phát triển các nhà máy thủy điện tích năng với quy mô công suất khoảng 2.400- 6.000 MW đến năm 2030

Về nguồn điện lưu trữ, phát triển các nhà máy thủy điện tích năng với quy mô công suất khoảng 2.400- 6.000 MW đến năm 2030; định hướng đến năm 2050, công suất thuỷ điện tích năng đạt 20.691 -21.327 MW để điều hòa phụ tải, dự phòng công suất và hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo với quy mô lớn.

Pin lưu trữ phát triển phục vụ nhu cầu hệ thống và kết hợp với năng lượng tái tạo, bố trí phân tán gần các trung tâm nguồn điện gió, điện mặt trời hoặc trên hệ thống điện tại các trung tâm phụ tải. Đến năm 2030 dự kiến đạt công suất khoảng 10.000 - 16.300 MW; định hướng đến năm 2050, công suất pin lưu trữ đạt 95.983 - 96.120 MW để phù hợp với tỷ trọng cao của năng lượng tái tạo.

Bên cạnh đó, ưu tiên, khuyến khích phát triển các nhà máy điện đồng phát, nhà máy điện sử dụng nhiệt dư, khí lò cao, các sản phẩm phụ của dây chuyền công nghệ trong các cơ sở công nghiệp.

Giai đoạn 2030-2035 đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1&2

Phát triển nguồn điện hạt nhân theo đúng định hướng đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 174/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Nghị quyết số 189/2025/QH15 ngày 19/2/2025 về cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư xây dựng Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 3/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn 2030-2035 sẽ đưa vào vận hành các Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1&2 với quy mô đạt 4.000-6.400 MW. Giai đoạn đến năm 2050 hệ thống cần bổ sung khoảng 8.000 MW nguồn điện hạt nhân để cung cấp nguồn điện nền và có thể tăng lên theo nhu cầu.

Đối với nhiệt điện than: Chỉ thực hiện tiếp các dự án đã có trong quy hoạch và đang đầu tư xây dựng đến năm 2030. Định hướng thực hiện chuyển đổi nhiên liệu sang sinh khối/amoniac với các nhà máy đã vận hành được 20 năm khi giá thành phù hợp. Dừng hoạt động các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu.

Đối với nhiệt điện khí: Ưu tiên sử dụng tối đa khí trong nước cho phát điện. Trong trường hợp sản lượng khí trong nước suy giảm thì nhập khẩu bổ sung bằng khí thiên nhiên hoặc LNG. Phát triển các dự án sử dụng LNG và hạ tầng nhập khẩu LNG đồng bộ với quy mô phù hợp, sử dụng công nghệ hiện đại. Thực hiện lộ trình chuyển đổi nhiên liệu sang hydrogen khi công nghệ được thương mại hóa và giá thành phù hợp.

Nguồn điện linh hoạt: Đầu tư phát triển các nguồn điện linh hoạt để điều hòa phụ tải, duy trì ổn định hệ thống điện để hấp thụ nguồn điện năng lượng tái tạo quy mô lớn. Năm 2030, dự kiến phát triển 2.000 - 3.000 MW. Định hướng năm 2050 lên đến 21.333 - 38.641 MW.

Đẩy mạnh nhập khẩu điện từ các nước Đông Nam Á và Tiểu vùng sông Mê Kông

Về xuất nhập khẩu điện: Thực hiện kết nối, trao đổi điện năng có hiệu quả với các nước trong khu vực, bảo đảm lợi ích của các bên, tăng cường an toàn hệ thống điện; đẩy mạnh nhập khẩu điện từ các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) có tiềm năng về thủy điện.

Quan tâm đầu tư, khai thác các nguồn điện tại nước ngoài để cung ứng điện về Việt Nam. Năm 2030, nhập khẩu khoảng 9.360 - 12.100 MW từ Lào theo Hiệp định giữa hai Chính phủ và tận dụng khả năng nhập khẩu phù hợp với điều kiện đấu nối từ Trung Quốc với quy mô hợp lý; định hướng năm 2050, nhập khẩu khoảng 14.688 MW. Nếu điều kiện thuận lợi, giá thành hợp lý, có thể tăng thêm quy mô tối đa hoặc đẩy sớm thời gian nhập khẩu điện từ Lào về khu vực miền Bắc.

Ưu tiên phát triển các nguồn điện từ năng lượng tái tạo phục vụ xuất khẩu. Đến năm 2030, tăng quy mô xuất khẩu điện sang Campuchia lên khoảng 400 MW. Dự kiến đến năm 2035, quy mô công suất xuất khẩu điện sang Singapore, Malaysia và các đối tác khác trong khu vực đạt khoảng 5.000 - 10.000 MW và duy trì với quy mô 10.000 MW đến năm 2050, có thể cao hơn tùy theo nhu cầu của bên nhập khẩu trên cơ sở có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước và an ninh quốc phòng.

Cơ cấu nguồn điện

Đến năm 2030: Tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước (không bao gồm xuất khẩu) là 183.291-236.363 MW, trong đó:

Điện gió trên bờ và gần bờ 26.066-38.029 MW (chiếm tỷ lệ 14,2-16,1%);

Điện gió ngoài khơi 6.000-17.032 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030-2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi và giá thành phù hợp;

Điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không bao gồm các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) 46.459-73.416 MW (chiếm tỷ lệ 25,3 -31,1%);

Điện sinh khối 1.523 - 2.699 MW, điện sản xuất từ rác 1.441 -2.137 MW, điện địa nhiệt và năng lượng mới khác khoảng 45 MW; có thể phát triển quy mô lớn hơn nếu đủ nguồn nguyên liệu, hiệu quả sử dụng đất cao, có nhu cầu xử lý môi trường, hạ tầng lưới điện cho phép, giá điện và chi phí truyền tải hợp lý;

Thủy điện 33.294-34.667 MW (chiếm tỷ lệ 14,7-18,2%), có thể phát triển cao hơn nếu bảo đảm môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ an ninh nguồn nước;

Điện hạt nhân 4.000-6.400 MW đưa vào vận hành giai đoạn 2030-2035, có thể đẩy sớm tiến độ nếu điều kiện thuận lợi;

Nguồn lưu trữ 10.000 - 16.300 MW (chiếm tỷ lệ 5,5 - 6,9 %); Nhiệt điện than 31.055 MW (chiếm tỷ lệ 13,1-16,9%); Nhiệt điện khí trong nước 10.861-14.930 MW (chiếm tỷ lệ 5,9-6,3%); Nhiệt điện LNG 22.524 MW (chiếm tỷ lệ 9,5-12,3%);

Nguồn điện linh hoạt (nhiệt điện sử dụng nhiên liệu LNG, dầu, hydrogen... có độ linh hoạt vận hành cao) 2.000 - 3.000 MW (chiếm tỷ lệ 1,1-1,3%);

Thủy điện tích năng 2.400-6.000 MW;

Nhập khẩu điện 9.360-12.100 MW từ Lào, Trung Quốc (chiếm tỷ lệ 4,0-5,1%, tăng tối đa quy mô nhập khẩu điện từ Lào theo Hiệp định giữa hai Chính phủ hoặc đẩy sớm thời gian nhập khẩu điện từ Lào về khu vực miền Bắc nếu điều kiện thuận lợi).

Với các nguồn điện than đang gặp khó khăn trong việc triển khai, vay vốn và thay đổi cổ đông sẽ cập nhật quá trình xử lý để điều chỉnh cơ cấu các nguồn điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối cho phù hợp với nhu cầu.

Về việc tham gia mua bán điện trực tiếp (DPPA) và sản xuất năng lượng mới: Theo thống kê, hiện nay số lượng khách hàng lớn tiêu thụ từ 1 triệu kWh/năm trở lên chiếm khoảng 25% tổng sản lượng điện toàn hệ thống (với khoảng trên 1.500 khách hàng).

Đến năm 2030, quy mô xuất khẩu điện sang Campuchia lên khoảng 400 MW. Dự kiến đến năm 2035, công suất xuất khẩu điện sang Singapore, Malaysia và các đối tác khác trong khu vực khoảng 5.000 - 10.000 MW, có thể cao hơn tùy theo nhu cầu của bên nhập khẩu trên cơ sở có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước và an ninh quốc phòng.

Phương án phát triển lưới điện

Giai đoạn 2025-2030: Xây dựng mới 102.900 MVA và cải tạo 23.250 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 12.944 km và cải tạo 1.404 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 105.565 MVA và cải tạo 17.509 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 15.307 km và cải tạo 5.483 km đường dây 220 kV.

Định hướng giai đoạn 2031-2035: Xây dựng mới 26.000-36.000 MW dung lượng trạm chuyển đổi điện cao áp một chiều (trạm HVDC) và 3.500 - 6.600 km đường dây truyền tải cao áp một chiều (HVDC). Xây dựng mới 73.800 MVA và cải tạo 36.600 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 7.480 km và cải tạo 650 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 44.500 MVA và cải tạo 34.625 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 4.296 km và cải tạo 624 km đường dây 220 kV.

Định hướng giai đoạn 2036-2050: Xây dựng mới 26.000 - 36.000 MW dung lượng trạm HVDC và 3.600 - 6.700 km đường dây HVDC; xây dựng mới 24.000 MVA dung lượng trạm chuyển đổi điện cao áp xoay chiều (trạm HVAC) trên 500 kV và 2.500 km đường dây truyền tải cao áp xoay chiều HVAC trên 500kV; xây dựng mới 72.900 MVA và cải tạo 102.600 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 7.846 km và cải tạo 750 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 81.875 MVA và cải tạo 103.125 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 5.370 km và cải tạo 830 km đường dây 220 kV.

Nhu cầu vốn đầu tư

Quyết định nêu rõ, giai đoạn 2026 - 2030: Tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 136,3 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 118,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỷ USD.

Định hướng giai đoạn 2031 - 2035: Ước nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 130,0 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 114,1 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 15,9 tỷ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.

Định hướng giai đoạn 2036-2050: Ước nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 569,1 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 541,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 27,9 tỷ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.

Có thể bạn quan tâm

Ban tổ chức Hội chợ kết nối giao thương và quảng bá sản phẩm Việt Nam-Campuchia 2026 họp thống nhất phương án. (Ảnh: Bộ Quốc phòng)

Động lực thúc đẩy hợp tác thực chất Việt Nam-Campuchia

Trong tổng thể mối quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam-Campuchia, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư ngày càng khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng, tạo động lực thúc đẩy hợp tác thực chất, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Văn bản hợp nhất số 123/2026/VBHN-TT-BXD được áp dụng đối với tàu biển, cảng biển hoạt động tuyến quốc tế.

Hoàn thiện khung pháp lý về an ninh tàu biển, cảng biển theo tiêu chuẩn quốc tế

Bộ Xây dựng vừa hoàn tất xác thực và ban hành Văn bản hợp nhất số 123/2026/VBHN-TT-BXD, quy định chi tiết việc thực hiện các tiêu chuẩn an ninh hàng hải quốc tế theo Công ước SOLAS 74 và Bộ luật ISPS, đồng thời chuẩn hóa các thủ tục hành chính trong cấp giấy chứng nhận an ninh đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam.

(Ảnh minh họa có sử dụng yếu tố AI)

Hỗ trợ người bán hàng trực tuyến thực hiện nghĩa vụ thuế

Sự bùng nổ của kinh doanh trực tuyến kéo theo yêu cầu quản lý thuế dựa trên dữ liệu, đặt ra bài toán về chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và hộ cá thể. Trước áp lực đối soát dòng tiền và hóa đơn phức tạp, người bán hàng trực tuyến cần những giải pháp hỗ trợ thực chất để vừa chuẩn hóa pháp lý, vừa bảo toàn hiệu quả kinh doanh.

Công ty Cổ phần Phát triển nông nghiệp AgriS-Chi nhánh Khánh Hòa tổ chức gặp gỡ nông dân trồng mía khu vực phía nam Khánh Hòa để tuyên truyền các biện pháp hỗ trợ phục hồi vùng nguyên liệu ảnh hưởng nắng hạn, chủ động sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu. (Ảnh: VINH THẮNG)

Đồng hành cùng nông dân vượt khó, khôi phục vùng mía nguyên liệu

Nắng hạn kéo dài khiến hàng nghìn héc-ta mía ở phía nam tỉnh Khánh Hòa giảm năng suất, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng. Trước khó khăn ấy, Công ty Cổ phần Phát triển nông nghiệp AgriS-Chi nhánh Khánh Hòa đã có nhiều giải pháp hỗ trợ, cùng nông dân phục hồi vùng nguyên liệu, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nhiều dự án nhà ở xã hội đang được triển khai nhằm bổ sung nguồn cung cho thị trường. (Ảnh: KC)

Đẩy nhanh dòng vốn cho nhà ở xã hội

Quy mô chương trình tín dụng nhà ở xã hội đã mở rộng lên hơn 153 nghìn tỷ đồng, cam kết cho vay tăng gần 3 lần so với cuối năm 2025. Trong khi nhu cầu vay vốn còn lớn, việc tháo gỡ vướng mắc về nguồn cung, tiến độ dự án là yếu tố quan trọng để thúc đẩy giải ngân.

Ông Lê Hoàng Chính Quang - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Ngân hàng Nhà nước. (Ảnh: VIỆT PHONG)

Bảo vệ khách hàng trước lừa đảo công nghệ cao

Theo ông Lê Hoàng Chính Quang, Cục trưởng Công nghệ thông tin (Ngân hàng Nhà nước), tội phạm công nghệ cao liên tục thay đổi thủ đoạn, sử dụng trí tuệ nhân tạo để giả mạo hình ảnh, giọng nói, tìm cách vượt qua các lớp xác thực và chiếm đoạt tài sản.

Nghề đan lát được quảng bá tại lễ hội của xã. (Ảnh: HẰNG)

Người dân tộc “giữ lửa” nghề truyền thống

Thời gian qua, xã La Dạ (tỉnh Lâm Đồng) đã chú trọng quảng bá hình ảnh nghề truyền thống của người đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa và phát triển sinh kế. Song song đó, chính quyền xã luôn khuyến khích người dân duy trì nghề truyền thống, từng bước gắn phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Toàn cảnh cuộc họp báo. (Ảnh: Việt Phong)

Chủ động điều hành chính sách tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Chín tháng năm 2026, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định thị trường và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, biến động thị trường quốc tế và yêu cầu vốn cho tăng trưởng tiếp tục đặt ra bài toán cân đối giữa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Rà soát dữ liệu người nộp thuế gắn với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. (Ảnh: M.P)

Ngăn mạo danh, bảo vệ quyền lợi người nộp thuế

Không thành lập doanh nghiệp, không nhận thu nhập nhưng thông tin cá nhân vẫn xuất hiện trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, kê khai thuế. Những phản ánh được tiếp nhận đặt ra yêu cầu xác minh kịp thời, tách bạch trách nhiệm của người bị mạo danh và ngăn việc lợi dụng dữ liệu cá nhân ngay từ khâu đăng ký.

Toàn cảnh hệ thống dây chuyền bốc rót than của Công ty Tuyển than Cửa Ông-TKV. (Ảnh QUANG THỌ)

Công ty Tuyển than Cửa Ông chăm lo tốt đời sống người lao động

Trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành than còn nhiều khó khăn, Công ty Tuyển than Cửa Ông vẫn duy trì ổn định nhịp độ sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ than; đồng thời, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân lao động, tạo động lực hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm 2026.

Diễn đàn kỳ vọng góp phần kết nối 3 yếu tố dữ liệu, công nghệ và thị trường, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất, phù hợp hơn với điều kiện của khu vực kinh tế tập thể. (Ảnh: HNV)

Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường

Chuyển đổi số đang trở thành một yêu cầu ngày càng rõ nét đối với khu vực kinh tế tập thể. Tuy nhiên, với nhiều hợp tác xã, vấn đề đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ nào mà còn là chuyển đổi số để giải quyết bài toán gì, bắt đầu từ đâu và làm thế nào để tạo ra hiệu quả thực chất.