Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, ngành dầu khí đang triển khai các giải pháp nhằm tham gia sâu hơn vào quá trình hình thành, phát triển các ngành công nghiệp biển hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, việc sớm hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế biển phát triển có ý nghĩa quan trọng, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để các nguồn lực được khơi thông, phát huy hiệu quả.
Làm chủ công nghệ
Tại bãi thi công, chế tạo cảng Vietsovpetro (Vũng Tàu-Thành phố Hồ Chí Minh), hàng trăm kỹ sư, người lao động đang khẩn trương thi công các hạng mục thuộc Dự án phát triển Đại Hùng Nam, trong đó trọng điểm là công trình giàn đầu giếng WHP-DHN. Khởi công ngày 3/10/2025, công trình đã hoàn thành nhiều dấu mốc quan trọng từ chế tạo, lắp dựng, hạ thủy, vận chuyển đến lắp đặt ngoài khơi; cho thấy năng lực tổ chức, làm chủ công nghệ và khả năng thi công các công trình dầu khí biển quy mô lớn của đội ngũ trong nước.
Giám đốc Chi nhánh Thăm dò khai thác dầu khí Nam Côn Sơn (PVEP-NCS) Nguyễn Xuân Ninh cho biết, khối chân đế giàn WHP-DHN có tổng trọng lượng khoảng 8.000 tấn, bao gồm cả cọc, được thiết kế phù hợp điều kiện vùng nước sâu, tích hợp 11 lỗ giếng và sàn hỗ trợ khoan. Đây là hạng mục quy mô lớn, đòi hỏi năng lực cao trong thiết kế, chế tạo, vận chuyển và lắp đặt công trình biển.
Sau gần một năm thi công, lắp dựng với nguồn nhân lực trong nước, chân đế giàn WHP-DHN đã được hạ thủy và lắp đặt thành công tại vị trí ngoài khơi mỏ Đại Hùng. Cùng với quá trình chế tạo, vận chuyển và lắp đặt chân đế, chiến dịch rải tuyến đường ống (pipeline) phục vụ kết nối WHP-DHN đang được triển khai, tạo tiền đề cho công tác đấu nối và hoàn thiện hệ thống ngoài khơi.
Mới đây, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC (PTSC M&C), đơn vị trực thuộc Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) đã hoàn thành, hạ thủy và vận chuyển thành công bốn trạm biến áp ngoài khơi thuộc Dự án Baltica 2. Đây là lần đầu tiên sản phẩm điện gió ngoài khơi được chế tạo tại Việt Nam và xuất khẩu sang châu Âu, mở ra hướng tham gia sâu hơn của ngành dịch vụ cơ khí dầu khí Việt Nam vào chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo toàn cầu. Thành công của dự án cho thấy năng lực thực hiện các hợp đồng tổng thầu EPC của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của Petrovietnam trong lĩnh vực cung ứng thiết bị, dịch vụ cho các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi.
Baltica 2 là dự án điện gió ngoài khơi do Ørsted (Đan Mạch) và PGE (Ba Lan) hợp tác phát triển trên biển Baltic, ngoài khơi Ba Lan. Với tổng công suất khoảng 1,5 GW, dự án gồm 107 tua-bin gió và bốn trạm biến áp ngoài khơi (OSS), mỗi trạm có công suất 375MW, tiếp nhận điện từ các tua-bin và truyền tải vào bờ. Dự kiến từ quý IV/2027, Baltica 2 sẽ cung cấp điện cho khoảng 2,4 triệu hộ gia đình tại Ba Lan, bổ sung nguồn điện tái tạo quy mô lớn và góp phần vào quá trình chuyển dịch năng lượng của châu Âu.
Sớm hoàn thiện thể chế
Theo lãnh đạo Petrovietnam, thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngành dầu khí đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế biển. Trong giai đoạn 2018-2025, ngành đạt nhiều kết quả đáng chú ý. Tổng sản lượng khai thác dầu khí đạt hơn 155,2 triệu tấn; cung cấp 37,2 tỷ m3 khí khô phục vụ sản xuất điện, với sản lượng hơn 53 tỷ kW giờ/năm, tương đương 33% tổng sản lượng điện quốc gia; đáp ứng 60% nhu cầu xăng dầu nội địa và 70% nhu cầu phân bón trong nước.
Tổng doanh thu của Petrovietnam trong giai đoạn này đạt 6,3 triệu tỷ đồng; lợi nhuận hợp nhất trước thuế hơn 414,5 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách 1,08 triệu tỷ đồng. Đến nay, tập đoàn đã đưa 4/5 dự án ra khỏi danh sách 12 dự án khó khăn của ngành công thương. Các dự án trọng điểm quốc gia như chuỗi khí-điện Lô B, Cá Voi Xanh, LNG Sơn Mỹ và Nhiệt điện Long Phú 1 đang được tích cực triển khai.
Trước đây, ngành dầu khí chủ yếu tập trung vào chuỗi giá trị truyền thống từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến chế biến dầu khí. Trong giai đoạn hiện nay, ngành từng bước mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, điện khí, hydrogen, amoniac xanh và các dạng năng lượng sạch khác. Đây không chỉ là sự mở rộng lĩnh vực đầu tư, mà còn là quá trình chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên những lợi thế sẵn có về cơ sở vật chất, năng lực khảo sát biển, đội ngũ chuyên gia và kinh nghiệm hoạt động trong môi trường biển.
Chia sẻ về thế mạnh này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi nhấn mạnh, năng lực của doanh nghiệp dầu khí cần tiếp tục được phát huy, không chỉ phục vụ các hoạt động dầu khí truyền thống mà còn hỗ trợ phát triển các ngành năng lượng mới. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của nền kinh tế tiếp tục tăng, vai trò của doanh nghiệp dầu khí ngày càng gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới cũng là một hướng để doanh nghiệp tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong hệ thống năng lượng Việt Nam.
Một trong những điểm nghẽn của phát triển kinh tế biển là cơ chế, chính sách chưa theo kịp yêu cầu, nhất là đối với năng lượng ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng, cần sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng liên ngành, đồng bộ, linh hoạt, tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydrogen, thu giữ và lưu trữ carbon phát triển. Đồng thời, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp chủ lực trong đầu tư, lựa chọn đối tác và triển khai dự án, qua đó rút ngắn thời gian chuẩn bị, phê duyệt các dự án quy mô lớn.