Tăng khả năng thích ứng, giảm áp lực từ biến đổi khí hậu và ô nhiễm

Tuyến metro Nhổn-Ga Hà Nội (đoạn trên cao Nhổn-Cầu Giấy) được đưa vào sử dụng góp phần giảm đáng kể lượng khí thải từ phương tiện cá nhân. (Ảnh MỸ HÀ)
Tuyến metro Nhổn-Ga Hà Nội (đoạn trên cao Nhổn-Cầu Giấy) được đưa vào sử dụng góp phần giảm đáng kể lượng khí thải từ phương tiện cá nhân. (Ảnh MỸ HÀ)

Trong bối cảnh kinh tế thế giới chuyển dịch mạnh theo hướng xanh hóa, số hóa và phát thải thấp, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới, song cũng đối mặt với không ít thách thức. Điều này đòi hỏi các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm nâng cao khả năng thích ứng, giảm áp lực từ biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường trong phát triển kinh tế-xã hội.

Biến đổi khí hậu được xác định là một trong những thách thức lớn nhất đối với môi trường và phát triển bền vững, tác động trực tiếp đến cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống kinh tế-xã hội. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu, tác động đa chiều đến kinh tế, xã hội và môi trường.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu, tác động đa chiều đến kinh tế, xã hội và môi trường.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Báo cáo Viet Nam 2045-Growing Greener (World Bank, 2025) nhấn mạnh, biến đổi khí hậu đang đe dọa an ninh lương thực và làm suy giảm đa dạng sinh học, đồng thời tác động đến sức khỏe cộng đồng; nhất là nắng nóng kéo dài làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và dịch bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết.

Theo Liên hợp quốc, năm 2024, Việt Nam đã mất khoảng 0,15% GDP do tác động của biến đổi khí hậu; trong khi báo cáo Country Climate and Development Report (World Bank, 2022, cập nhật 2025) cho thấy, nếu không hành động, Việt Nam có thể mất tới 24% GDP vào năm 2100 trong kịch bản phát thải cao.

Cùng với biến đổi khí hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng đang gây ra những tổn thất nghiêm trọng về kinh tế-xã hội. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Phương (Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam), mỗi năm, Việt Nam phát sinh khoảng hơn 25 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt, nhưng chỉ khoảng 15% được xử lý bằng công nghệ hợp vệ sinh; đồng thời phát sinh khoảng 3 tỷ m³ nước thải công nghiệp và 1,3 triệu tấn chất thải nguy hại nhưng tỷ lệ xử lý đạt chuẩn vẫn còn thấp.

Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên... thường xuyên vượt ngưỡng an toàn, với nồng độ bụi mịn PM2.5 cao gấp nhiều lần khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trong khi mức phát thải bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 3,4 tấn CO2/năm, thấp hơn mức trung bình thế giới là 4,6 tấn CO2/người/năm nhưng với quy mô kinh tế và dân số vượt 100 triệu người, lượng phát thải dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng nếu không có chính sách mạnh mẽ nhằm kiểm soát, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững.

Đối với Việt Nam, tăng trưởng xanh sẽ thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, đi tắt, đón đầu để bắt kịp, tiến cùng và vượt lên thực hiện khát vọng phát triển thịnh vượng và bao trùm.

Trước những thách thức của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, nước ta cần có những chính sách quyết liệt và hành động mạnh mẽ, chủ động thích ứng hiệu quả, giảm mức độ dễ bị tổn thương, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu; thúc đẩy khoa học và công nghệ là động lực quan trọng, vươn tầm trong giai đoạn tới, trở thành yếu tố quyết định năng lực thích ứng và phát triển bền vững. Trong đó, tăng trưởng xanh đang trở thành xu thế tất yếu và là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới nhằm phát triển thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội.

Đối với Việt Nam, tăng trưởng xanh sẽ thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, đi tắt, đón đầu để bắt kịp, tiến cùng và vượt lên thực hiện khát vọng phát triển thịnh vượng và bao trùm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoài Bắc (Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông) cho rằng, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ định hướng chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời thực hiện cam kết quốc tế quan trọng là đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, như đã công bố tại COP26. Nền tảng pháp lý quan trọng cho mục tiêu này chính là “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050”, được phê duyệt tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg là định hướng chủ chốt nhằm dung hòa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong tiến trình phát triển bền vững và hội nhập toàn cầu.

Theo một số chuyên gia, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng gắn với phát triển xanh và bền vững, Việt Nam cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ, kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, huy động tài chính và tăng cường hợp tác quốc tế. Trong đó, cần đổi mới tư duy hoạch định phát triển, coi tiêu chí môi trường là một cấu phần bắt buộc của tăng trưởng kinh tế; các chỉ tiêu phát triển quốc gia cần được lồng ghép yếu tố phát thải, sử dụng tài nguyên và chất lượng môi trường.

Đáng chú ý, Nhà nước cần đẩy mạnh công cụ tài chính xanh như thuế carbon, tín chỉ carbon, phí phát thải, cùng với các cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch; hình thành khung pháp lý về kinh tế tuần hoàn, tạo nền tảng cho sản xuất và tiêu dùng bền vững. Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách về trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon; hoàn thiện bộ tiêu chí xanh quốc gia làm cơ sở xác định và phân loại các hoạt động kinh tế. Trong ban hành các cơ chế, chính sách cần hoàn thiện các quy định, hướng dẫn về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật đẩy nhanh việc thực hiện kinh tế tuần hoàn; hoàn thiện các chính sách lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tạo việc làm xanh và các thể chế, chính sách và công cụ giám sát, đánh giá phát triển đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cùng với việc ban hành các cơ chế, chính sách, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ hiện nay, việc định hướng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số để quản trị bền vững tại Việt Nam cũng sẽ có ý nghĩa chiến lược, là yêu cầu cấp thiết nhằm thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. Bởi nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp về dữ liệu, hạ tầng, nhân lực, thể chế và hợp tác quốc tế, AI sẽ trở thành công cụ chiến lược, không chỉ nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo mà còn góp phần quan trọng vào quản trị bền vững, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển đất nước theo hướng xanh và bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham gia thảo luận chuyên đề tại Diễn đàn Tiêu dùng bền vững năm 2026. (Ảnh: Minh Châu)

Thúc đẩy tiêu dùng trách nhiệm, hướng tới tương lai bền vững

Ngày 15/10, tại Hà Nội, Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (Bộ Công thương) tổ chức Diễn đàn Tiêu dùng bền vững năm 2026 với chủ đề “Tiêu dùng trách nhiệm - Tiết kiệm năng lượng - Bảo vệ tương lai”, nhằm thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng xanh và sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng.

Rừng ngập mặn tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. (ẢNH: ĐỨC TÙNG)

Diện tích rừng bị ảnh hưởng do cháy tăng mạnh

Trong 9 tháng đầu năm 2026, mặc dù số vụ phá rừng và cháy rừng đều giảm, song thiệt hại về diện tích rừng bị ảnh hưởng do cháy rừng tăng 132,9% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đây vẫn là vấn đề đáng quan tâm, nhất là trong điều kiện thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài và nguy cơ ảnh hưởng của hiện tượng El Niño.

Khu kinh tế Vân Phong được quy hoạch là hạt nhân, tập trung phát triển công nghiệp và logistics biển của Khánh Hòa. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa tái cấu trúc không gian phát triển, mở dư địa tăng trưởng mới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Khánh Hòa tăng thêm không gian phát triển rộng mở từ đất liền ra biển đảo. Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ định hình lại các cực tăng trưởng, mà còn đặt nền móng cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số.

(Ảnh minh họa: THÀNH ĐẠT)

Chiều tối và đêm nay, nhiều khu vực tại miền trung và Nam Bộ mưa to, đề phòng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh

Dự báo, chiều tối và đêm nay (14/10), khu vực thành phố Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk, khu vực Nam Bộ và tỉnh Lâm Đồng có mưa dông, cục bộ có nơi mưa to trên 80mm, đề phòng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh, lũ quét trên các sông, suối nhỏ, sạt lở đất trên sườn dốc và ngập úng tại các vùng trũng, thấp.

[Video] Dự báo thời tiết ngày 14/10/2026: Bắc Bộ có nắng, Trung Bộ mưa giảm, Nam Bộ chiều tối có dông

[Video] Dự báo thời tiết ngày 14/10/2026: Bắc Bộ có nắng, Trung Bộ mưa giảm, Nam Bộ chiều tối có dông

Hôm nay, thời tiết trên cả nước có xu hướng cải thiện khi mưa giảm ở nhiều khu vực. Bắc Bộ trời nhiều mây vào sáng sớm, sau đó giảm mây, có nắng. Trung Bộ mưa giảm về diện và lượng. Trong khi đó, Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ ban ngày có nắng gián đoạn, chiều tối và đêm xuất hiện mưa rào, dông rải rác, cục bộ có nơi mưa to.

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 14/10/2026: Bắc Bộ ngày mai hửng nắng, Trung Bộ còn mưa lớn cục bộ,

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 14/10/2026: Bắc Bộ ngày mai hửng nắng, Trung Bộ còn mưa lớn cục bộ,

Đêm nay và ngày mai, thời tiết các khu vực trên cả nước có sự phân hóa. Bắc Bộ đêm có mưa vài nơi, ngày mai giảm mây, trời hửng nắng. Trung Bộ tiếp tục có mưa rào và dông. Sang ngày mai, mưa có xu hướng giảm. Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ chiều tối, đêm tiếp tục có mưa dông rải rác.