Giải pháp kiểm soát ô nhiễm không khí Hà Nội

Ngày 6/1, Báo Tiền Phong phối hợp với Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Sở Xây dựng thành phố Hà Nội tổ chức Hội thảo “Kiểm soát ô nhiễm không khí Hà Nội: thách thức và hành động”.

Tọa đàm trong khuôn khổ hội thảo đề xuất những giải pháp tổng thể, khả thi trong giai đoạn tới.
Tọa đàm trong khuôn khổ hội thảo đề xuất những giải pháp tổng thể, khả thi trong giai đoạn tới.

Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Sự kiện được tổ chức trong bối cảnh “vấn nạn” ô nhiễm không khí đang ngày càng trở thành một thách thức đối với chính quyền Thủ đô.

Đã có rất nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm cải thiện chất lượng không khí, kiểm soát các nguồn phát thải và thúc đẩy mô hình phát triển đô thị xanh, bền vững nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.

Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phùng Công Sưởng, Tổng Biên tập Báo Tiền Phong chia sẻ: “Chúng tôi kỳ vọng hội thảo hôm nay không chỉ dừng lại ở việc nhận diện thách thức, mà quan trọng hơn là đề xuất được các giải pháp khả thi, có lộ trình rõ ràng và cơ chế phối hợp cụ thể… Sau hội thảo, các ý kiến góp ý sẽ được ban tổ chức chuyển đến các cơ quan, đơn vị chức năng, nhằm cùng nhau kiến tạo giải pháp, thúc đẩy hành động vì một Hà Nội xanh hơn, trong lành hơn”.

Những năm qua, Chính phủ và thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm không khí trên địa bàn Thủ đô. Trong đó phải kể đến Quyết định số 2530/QĐ-TTg ngày 19/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Kế hoạch đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng như đến năm 2030, nồng độ bụi PM2.5 tại Hà Nội giảm 20% so năm 2024. Sau năm 2030, nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội giảm trung bình 5 µg/m³ theo mỗi kỳ kế hoạch 5 năm, mục tiêu đến năm 2045, nồng độ bụi PM25 đạt mức quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường không khí chung quanh…

Ngoài ra, Quyết định số 43/2025/QĐ-TTg ngày 28/11/2025 quy định lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe ô-tô tham gia giao thông đường bộ, đặt ra lộ trình cụ thể về vấn đề kiểm định khí thải xe ô-tô lưu hành, trong đó kiểm soát chặt chẽ hơn ở 2 thành phố là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 26/11/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về thực hiện vùng phát thải thấp trên địa bàn thành phố với lộ trình cụ thể và giải pháp đồng bộ hạn chế phát thải từ hoạt động giao thông, thúc đẩy giao thông xanh, giao thông công cộng.

Các quyết sách trên tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc triển khai các giải pháp kiểm soát ô nhiễm không khí một cách đồng bộ, quyết liệt và thực chất hơn, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong thực thi.

1.jpg
Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Trong khuôn khổ hội thảo, tham luận của đại diện Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng ô nhiễm không khí Hà Nội và các địa phương lân cận trong thời gian qua, nhận diện các nhóm nguồn thải chính và đề xuất những giải pháp tổng thể, khả thi trong giai đoạn tới.

Theo ông Trương Mạnh Tuấn, Phó Trưởng phòng Quản lý chất lượng môi trường (Cục Môi trường), ô nhiễm không khí hiện tập trung chủ yếu tại Hà Nội và các tỉnh lân cận, đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô với nồng độ bụi mịn PM2.5 thường xuyên vượt ngưỡng.

Dự án ưu tiên trong giai đoạn tới là thí điểm xây dựng vùng phát thải thấp (LEZ) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại các vùng này, các phương tiện giao thông và nguồn phát sinh ô nhiễm sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, kết hợp với các chính sách ưu đãi chuyển đổi sang xe năng lượng sạch.

Bà Lê Thanh Thủy, Phó Trưởng Phòng Quản lý Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội thông tin, Hà Nội cũng đặt mục tiêu có tối thiểu 200 công trình xanh vào năm 2030 và thí điểm công nghệ phun sương giảm bụi tại các khu vực trọng điểm.

Theo đó, Hà Nội đã có nghị quyết quy định thực hiện Vùng phát thải thấp trên địa bàn Hà Nội (LEZ - Low Emission Zone) tại trung tâm Hà Nội. “Vùng LEZ sẽ kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải; giảm phát thải PM2.5, NOx, CO và các chất ô nhiễm khác xuống mức an toàn; khuyến khích phương tiện xanh, năng lượng sạch, quản lý chất thải hiệu quả”, bà Thủy nói.

z7401679262224-588db128fef370b85d7a3eb185824788.jpg
Bà Lê Thanh Thủy, Phó trưởng Phòng Quản lý Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội chia sẻ tại hội thảo.

Ba tiêu chí thực hiện vùng phát thải thấp gồm: Thuộc vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng hạn chế phát thải theo Quy hoạch Thủ đô 2021-2030, tầm nhìn 2050; khu vực thường xuyên ùn tắc giao thông từ mức D-F theo tiêu chuẩn TCVN 13592:2022; AQI trung bình 1 năm gần nhất dưới mức trung bình theo trạm quan trắc chuẩn.

Các giải pháp là hoàn thiện thể chế, chính sách; kiểm soát nguồn thải công nghiệp, quản lý giao thông; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ; huy động nguồn lực và hợp tác; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ.

Trong đó, nhóm giải pháp về giao thông và xây dựng được đặc biệt chú trọng với mục tiêu thúc đẩy giao thông xanh, giao thông công cộng và kiểm soát các nguồn thải từ xây dựng, công nghiệp, làng nghề, hoạt động đốt mở là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế cùng nhau chia sẻ, thảo luận những mô hình hay, sáng kiến thực tiễn, làm rõ con đường từ chính sách đến hành động.

Ban Tổ chức kỳ vọng hội thảo sẽ góp phần định hướng chính sách, kết nối các bên liên quan, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy sự chung tay hành động vì mục tiêu xây dựng một Hà Nội xanh hơn, đáng sống hơn, với bầu không khí trong lành hơn.

Có thể bạn quan tâm

Sơ đồ tác hại của ô nhiễm dầu đối với con người.

Xử lý ô nhiễm dầu bằng màng vi sinh vật

Xử lý ô nhiễm dầu luôn là vấn đề khó đối với nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia biển bởi chi phí lớn, thời gian kéo dài và ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy, giải pháp sử dụng vi sinh vật tạo màng sinh học để xử lý sự cố ô nhiễm dầu trong môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng.

Hồ chứa nước Sông Cái - Dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa), có dung tích 220 triệu m³, tiếp nước cho hệ thống thủy nông Nha Trinh-Lâm Cấm để tưới cho 12.800ha; tiếp nước cho sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; tạo nguồn cho thủy điện tích năng Bác Ái với công suất 1.200MW và 2 nhà máy thủy điện với công suất 24MW;... đang được quản lý, khai thác hiệu quả. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Giữ mạch nguồn xanh trên vùng đất "khát" Khánh Hòa

Giữa cái nắng hanh hao của vùng đất phía nam Khánh Hòa, nơi gió biển thổi qua những cánh đồng khô khát và những con suối mùa khô chỉ còn lấp loáng đáy, nay từng dòng nước được tích trữ, điều tiết về ruộng đồng mang ý nghĩa như giữ lại nhịp thở của sự sống. 

Thu gom rác thải nhựa tại cảng ở Quy Nhơn (cũ). (Ảnh minh họa)

Chung tay bảo vệ đại dương xanh

Không chỉ là vấn đề rác nổi trên mặt biển, rác thải ngư cụ còn là nguy cơ kéo dài đối với hệ sinh thái, nguồn lợi và sinh kế của cộng đồng ven biển. Thực trạng này đặt ra yêu cầu giảm rác thải ngư cụ nhằm bảo vệ đại dương xanh.

Các đại biểu và người dân tham gia trồng tre tại ấp Tân Lập, xã Thống Nhất. (Ảnh: BÙI DUYÊN)

Ngày hội trồng tre chung tay vì môi trường

Ngày 1/3, tại Trung tâm Văn hóa cộng đồng người Mường, ấp Tân Lập, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Quỹ Phát triển Tre Việt phối hợp Ủy ban nhân dân xã Thống Nhất tổ chức chương trình khởi động Ngày hội trồng tre chung tay vì môi trường và sinh kế cộng đồng và trao tặng 230 phần quà cho người dân.

Cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk hướng dẫn người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. (Ảnh: HOÀI ANH)

Chuyển dịch sang nền nông nghiệp xanh, có trách nhiệm

Trong xu thế chuyển dịch sang nền nông nghiệp xanh và có trách nhiệm, việc xây dựng hệ thống quản lý thuốc bảo vệ thực vật sinh học thống nhất ngày càng trở nên quan trọng tại khu vực ASEAN. Điều này không chỉ tạo sự đồng bộ trong việc đăng ký, lưu hành sản phẩm mà còn thúc đẩy thương mại nông sản giữa các quốc gia thành viên.