Sửa thuế để hỗ trợ nông nghiệp và nông dân

Được ra đời với mục tiêu giảm chi phí đầu vào cho nông dân, song sau 10 năm áp dụng, chính sách miễn thuế giá trị gia tăng cho phân bón quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng 2014 lại chưa có được kết quả như kỳ vọng. Vấn đề này tiếp tục được thảo luận trong chương trình nghị sự của Kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa XV đang diễn ra.
Với chính sách thuế hiện hành, doanh nghiệp sản xuất gặp khó, trong khi giá phân bón bán ra lại không giảm như kỳ vọng.
Với chính sách thuế hiện hành, doanh nghiệp sản xuất gặp khó, trong khi giá phân bón bán ra lại không giảm như kỳ vọng.

Bản chất của thuế giá trị gia tăng là gián thu, đánh trên giá trị gia tăng qua mỗi khâu sản xuất và được khấu trừ liên hoàn. Khi phân bón không phải chịu thuế giá trị gia tăng, các doanh nghiệp sản xuất trong nước không được khấu trừ thuế đầu vào, khiến chi phí sản xuất tăng lên do buộc phải cộng chi phí không được khấu trừ vào giá bán, từ đó giá thành cũng tăng cao.

Một chính sách, cả “ba nhà” thua thiệt

Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc là một doanh nghiệp sản xuất phân bón lớn trong nước, hằng năm oằn vai “gánh” khoản chi phí thuế lên tới khoảng 250 tỷ đồng. Theo ông Lê Anh Tuấn, Kế toán trưởng của Công ty, điều này đã hạn chế khả năng cạnh tranh của Đạm Hà Bắc, buộc doanh nghiệp phải giữ giá bán thấp để cạnh tranh với phân bón nhập khẩu nhưng lại không được khấu trừ thuế đầu vào.

Như vậy, có thể nói, chính sách miễn thuế giá trị gia tăng với phân bón đã “vô tình” khiến các doanh nghiệp trong nước gặp khó, còn giá phân bón bán ra lại không giảm như kỳ vọng. Giá phân bón tăng cao khiến nông dân phải tìm kiếm các sản phẩm giá rẻ hơn để tiết giảm chi phí, tạo cơ hội cho phân bón giả, kém chất lượng ngang nhiên phát triển tràn lan.

Dẫn số liệu về giá trong suốt gần chục năm qua, ông Nguyễn Tuấn Hồng, Giám đốc Hợp tác xã Bắc Hồng cho rằng, từ khi áp dụng Luật Thuế Giá trị gia tăng (Luật số 71/2014/QH13), giá phân bón đã tăng 30%. Cụ thể, năm 2014, chi phí phân bón cho mỗi sào ruộng (360 m2) chỉ vào khoảng 300.000 đồng, hiện đã tăng lên gần 500.000 đồng, chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất của nông dân.

Là người có kinh nghiệm nhiều năm tham gia xây dựng chính sách thuế, theo ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế), sau quá trình thực hiện Luật số 71/2014/QH13 (từ năm 2015 đến nay), thực tiễn vận động của nền kinh tế đã có tác động bất lợi đối với cả ngành nông nghiệp và công nghiệp sản xuất phân bón trong nước, dẫn tới không đạt được kỳ vọng như mục tiêu định hướng Nhà nước đã đề ra.

Dẫn những phản ánh cụ thể từ thực tiễn, ông Phụng cho rằng, do phân bón được chuyển sang diện không chịu thuế giá trị gia tăng, cả ba "nhà" của Việt Nam bị thua thiệt: Nhà nước thất thu ngân sách mà vẫn không thể thực hiện được cơ chế hỗ trợ hợp pháp cho nông nghiệp; nhà nông không được hưởng lợi giảm giá, giảm chi phí đầu vào cho dù giá phân bón tăng hay giảm, do doanh nghiệp phải hạch toán thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ đưa vào giá thành, cộng vào giá bán để bảo toàn vốn; nhà sản xuất phân bón trong nước ở vào thế yếu trong cạnh tranh với phân bón nhập khẩu.

Cần xóa bỏ sự bất cập do hai cơ chế giá

Với những phân tích cụ thể, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thực phẩm G.C. Nguyễn Văn Thứ thẳng thắn chỉ rõ, một trong những bất cập lớn của chính sách thuế hiện hành là tạo ra hai cơ chế giá cho cùng một mặt hàng. Thực tế, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp đang phải chịu thuế khi mua phân bón, trong khi nông dân lại mua với giá không có thuế. Điều này dẫn đến sự không đồng nhất trong chính sách thuế, người nông dân phải chịu thiệt.

Trong khi đó, phân bón nhập khẩu không chỉ không chịu thuế giá trị gia tăng mà còn được các nước xuất khẩu hoàn thuế. Điều này khiến hàng nhập khẩu dễ dàng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường.

Trước thực trạng này, giới chuyên gia đã đề xuất giải pháp đưa phân bón trở lại diện chịu thuế giá trị gia tăng với mức thuế suất 5%. Tiến sĩ Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng, việc đưa phân bón vào diện chịu thuế giá trị gia tăng 5% không chỉ xóa bỏ bất cập về chuyện “hai cơ chế giá” mà còn giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, từ đó, người nông dân cũng được hưởng lợi. Hơn thế, còn tạo sự công bằng trong chính sách thuế giữa phân bón trong nước và phân bón nhập khẩu.

Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương (Vụ Chính sách thuế, Tổng cục Thuế), khi phân bón quay lại chịu thuế giá trị gia tăng 5%, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải căn cứ giá nhập khẩu thực tế; còn doanh nghiệp sản xuất trong nước căn cứ mặt bằng giá của thị trường nội địa để tính toán giá bán với mức lợi nhuận hợp lý, duy trì khả năng cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Ưu điểm của việc chuyển phân bón sang đối tượng áp dụng thuế suất 5% là vừa thúc đẩy ngành sản xuất phân bón trong nước cạnh tranh được với phân bón nhập khẩu, vừa thực hiện mục tiêu thu hẹp đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Phân bón sản xuất trong nước hiện chiếm hơn 73% thị phần.

Chính phủ đã đề nghị sửa đổi, đưa phân bón trở về chịu thuế giá trị gia tăng 5%. Cả về cơ sở khoa học và những minh chứng thực tế cho thấy, đề xuất này của Chính phủ là hợp lý!”- Đại biểu Quốc hội TRỊNH XUÂN AN, Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

Khẳng định sự đồng tình về việc áp thuế suất giá trị gia tăng 5% đối với mặt hàng phân bón như đề xuất của Chính phủ đã trình Quốc hội, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thẳng thắn nhận định, thực tế minh chứng, chính sách thuế giá trị gia tăng đối với phân bón được sửa đổi năm 2014 đã gây ảnh hưởng bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước suốt thời gian qua. Vấn đề này cần được giải quyết dứt điểm ngay trong kỳ họp này.

Theo dự kiến chương trình kỳ họp, Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) sẽ được Quốc hội biểu quyết thông qua vào sáng 26/11 tới đây.

Có thể bạn quan tâm

TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần.

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng hình thành hành lang liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương trong khu vực.

Mở rộng không gian phát triển từ liên kết vùng

Trong bối cảnh các địa phương trên cả nước đã được sắp xếp lại và chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bài toán phát triển vùng không còn dừng ở việc tăng cường phối hợp giữa những địa giới hành chính riêng biệt mà hướng tới sự kết nối trong tổng thể tổ chức tăng trưởng quốc gia.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Người nông dân Bắc Ninh nuôi trang trại gà nhờ vay ngân hàng chính sách. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới cách tổ chức nguồn lực và phương thức thực hiện

Một chương trình mục tiêu quốc gia mới được hợp nhất từ bốn Chương trình hiện hành, tập trung bảy nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời loại bỏ các tầng nấc trung gian chính là kỳ vọng của Quốc hội khi đưa vấn đề này ra xem xét và bấm nút thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Khi dữ liệu đất đai và dữ liệu thuế chưa được liên thông đầy đủ, việc xác minh một cá nhân có thuộc diện miễn thuế hay không vẫn phụ thuộc vào công tác hậu kiểm của cơ quan quản lý.

Thiết thực hỗ trợ người thật sự có nhu cầu nhà ở

Từ ngày 1/7/2026, người dân chuyển nhượng căn nhà hoặc thửa đất ở duy nhất được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, Huỳnh Thanh Điền

Tăng trưởng không chỉ là quy mô GDP

Tăng trưởng không thể chỉ dựa vào làm nhiều hơn, mà phải dựa vào làm hiệu quả hơn, thông minh hơn và tạo ra giá trị cao hơn. Do vậy, muốn có tăng trưởng hai con số, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, kiến tạo dư địa phát triển mới. Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, đã có cuộc trao đổi với Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.