Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành
Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Để điện đi trước một bước không chỉ là bài toán đầu tư với hàng triệu tỷ đồng được tập trung vào phát triển nguồn và lưới điện, mà còn đòi hỏi một cuộc cải cách sâu rộng.

Những áp lực mới

Mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở mức hai con số trong nhiều năm tới cùng với chiến lược thu hút các ngành công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu (Data Center) hay thúc đẩy chuyển đổi sang xe điện thay thế phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, sản xuất xanh đang mở ra một giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đây đều là những lĩnh vực có yêu cầu điện lớn cả về công suất lẫn cường độ sử dụng, đồng thời đòi hỏi nguồn điện phải ổn định, chất lượng cao và ngày càng xanh hơn.

Ngành điện Việt Nam đã đạt được những bước tiến rất dài và hiện đang đứng thứ hai khu vực Đông Nam Á về công suất nguồn điện. Đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống (không bao gồm công suất nhập khẩu điện) đạt khoảng 87.600 MW, tăng khoảng 6.400 MW so với năm 2024. Tỷ lệ người dân được sử dụng điện gần như đạt 100%. Tuy nhiên, thành công của giai đoạn trước cũng mở ra những thách thức hoàn toàn mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo, khi ngành điện phải vận hành một hệ thống ngày càng phức tạp.

Đó là tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng nhanh nhưng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khiến điều độ hệ thống trở nên khó khăn hơn. Điện từ khí LNG tuy có ưu thế về phát thải nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động giá nhiên liệu toàn cầu. Yêu cầu “điện đi trước một bước” đang trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững cho hiện tại và tương lai.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước (không bao gồm xuất khẩu) là 183.291-236.363 MW, gấp đôi công suất đặt ra vào cuối năm 2025.

Song song là phát triển mạng lưới truyền tải, đầu tư hệ thống lưu trữ năng lượng, hạ tầng phục vụ điện gió ngoài khơi, lưới điện thông minh, đồng thời chuẩn bị cho điện hạt nhân và các nguồn điện phát thải thấp trong tương lai.

Nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải trong giai đoạn 2025-2030 được lên kế hoạch là khoảng 136,3 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 118,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỷ USD. Khối lượng đầu tư khổng lồ này cũng vượt xa khả năng cân đối của ngân sách nhà nước lẫn nguồn lực của riêng các doanh nghiệp nhà nước.

Muốn huy động được nguồn lực xã hội, ngành điện phải có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện. Đó cũng là lý do những năm gần đây, các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ đều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong lĩnh vực năng lượng. Đặc biệt, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển ngành năng lượng đã đặt ra yêu cầu tiếp tục phát triển đồng bộ các loại thị trường năng lượng, trong đó có thị trường điện cạnh tranh, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đây không đơn thuần là một sự điều chỉnh về chính sách, mà phản ánh sự chuyển dịch về tư duy phát triển.

Thị trường điện không thể vội vã

Có rất nhiều băn khoăn đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nêu ra khi góp ý với các cơ quan của Quốc hội và cơ quan soạn thảo về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Theo EVN, thực tiễn đầu tư lưới điện phát sinh vướng mắc do quy định pháp luật và quy hoạch liên quan chưa thật đồng bộ. Bên cạnh đó, tổng nhu cầu vốn đầu tư lưới truyền tải giai đoạn 2026-2030 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh bình quân khoảng 3,6 tỷ USD/năm, tương đương khoảng 93.600 tỷ đồng/năm, trong khi khả năng thu xếp vốn của EVN và Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) mới đáp ứng khoảng 40-50%. Bởi vậy, việc sớm hoàn thiện cơ chế giá truyền tải và cơ chế huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư lưới truyền tải trong phạm vi phù hợp nhằm bảo đảm an ninh cung cấp điện là rất cần thiết.

Dẫu vậy, dù Quốc hội cũng đã sửa Luật Điện lực trước đó vào năm 2023 nhằm khuyến khích xã hội hóa đầu tư đường truyền tải, nhưng tới nay vẫn chưa có nhà đầu tư tư nhân nào đổ tiền vào làm đường truyền tải độc lập. Lý do chính là giá truyền tải hiện ở mức dưới 100 đồng/kWh không hấp dẫn nhà đầu tư tư nhân, chưa kể việc giải phóng mặt bằng cho đường dây truyền tải luôn là vấn đề nan giải và nhiều địa phương chưa vào cuộc quyết liệt.

Khó khăn khác có thể nhìn thấy là việc đàm phán các hợp đồng mua bán điện (PPA) của các dự án nguồn điện mới với Công ty Mua bán điện (EPTC) đang thuộc EVN. Sau khi Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) tách khỏi EVN, việc huy động các nhà máy điện trong hệ thống dù vẫn do NSMO thực hiện nhưng đã có những khác biệt nhất định. NSMO khi huy động điện có mục tiêu cao nhất là bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế, trong khi bên trả tiền mua điện (EPTC/EVN) có những áp lực trong cân đối tài chính nhằm không lỗ khi tổng kết năm. Thực tế này cũng khiến nhà đầu tư không dễ chốt PPA về sản lượng điện phát, giá bán và mức độ huy động... Đây cũng là một trong những lý do chính khiến hàng loạt dự án điện khí LNG, dù được trông chờ triển khai nhanh để đi vào vận hành trước năm 2031, không tiến nhanh được.

Ở một chiều khác, việc mở rộng đối tượng tham gia Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), nhất là việc bổ sung đơn vị bán lẻ điện, đang bị lo ngại sẽ bị lợi dụng nếu thiếu các điều kiện kiểm soát phù hợp. Lý do được EVN đưa ra là nếu mở rộng cơ chế và đối tượng khi thị trường điện cạnh tranh chưa hoàn thiện, lợi ích có thể tập trung vào một nhóm doanh nghiệp, trong khi phần chi phí duy trì hệ thống điện quốc gia vẫn do EVN và các khách hàng còn lại gánh chịu. “Một thị trường điện cạnh tranh thật sự không chỉ có nhiều người mua, nhiều người bán, mà còn phải có cơ chế giá minh bạch, quyền tiếp cận lưới điện bình đẳng, hệ thống thanh toán hoàn chỉnh và nhất là cơ chế phân bổ đầy đủ các chi phí vận hành hệ thống điện”, là nhận xét của nhiều chuyên gia về thị trường điện.

Theo NSMO, đến hết năm 2025, hệ thống điện quốc gia có 469 nhà máy điện đang vận hành nhưng chỉ 118 nhà máy tham gia trực tiếp thị trường điện, với tổng công suất khoảng 34.080 MW, tương đương 37,8% tổng công suất nguồn điện. Phần lớn công suất còn lại vẫn tham gia thị trường theo các cơ chế gián tiếp.

Theo lộ trình đã được Chính phủ phê duyệt, thị trường điện được phát triển qua ba cấp độ gồm: thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh. Việc chuyển sang cấp độ tiếp theo chỉ được thực hiện khi cấp độ trước đã vận hành đầy đủ, đồng thời các điều kiện về tái cơ cấu ngành điện, cơ chế giá, tổ chức thị trường và hạ tầng giao dịch được hoàn thiện. Điều này có nghĩa, thị trường bán lẻ điện cạnh tranh chỉ có thể phát triển bền vững khi thị trường bán buôn đã hình thành đầy đủ, có nhiều đơn vị mua điện thật sự tham gia giao dịch. Thực tế hiện nay cho thấy nền tảng này vẫn chưa hoàn chỉnh.

Con đường phía trước chắc chắn còn nhiều thách thức. Việc cân bằng giữa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát giá điện, thu hút đầu tư tư nhân và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng sẽ luôn là bài toán không dễ có lời giải trọn vẹn. Nhưng nếu không mạnh dạn đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế ngay từ bây giờ, ngành điện sẽ rất khó theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế trong những thập niên tới.

Trước những đòi hỏi của kỷ nguyên mới, điện không còn đơn thuần là đầu vào của sản xuất mà đang trở thành nền tảng cho toàn bộ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Có thể bạn quan tâm

Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng hình thành hành lang liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương trong khu vực.

Mở rộng không gian phát triển từ liên kết vùng

Trong bối cảnh các địa phương trên cả nước đã được sắp xếp lại và chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bài toán phát triển vùng không còn dừng ở việc tăng cường phối hợp giữa những địa giới hành chính riêng biệt mà hướng tới sự kết nối trong tổng thể tổ chức tăng trưởng quốc gia.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Người nông dân Bắc Ninh nuôi trang trại gà nhờ vay ngân hàng chính sách. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới cách tổ chức nguồn lực và phương thức thực hiện

Một chương trình mục tiêu quốc gia mới được hợp nhất từ bốn Chương trình hiện hành, tập trung bảy nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời loại bỏ các tầng nấc trung gian chính là kỳ vọng của Quốc hội khi đưa vấn đề này ra xem xét và bấm nút thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Khi dữ liệu đất đai và dữ liệu thuế chưa được liên thông đầy đủ, việc xác minh một cá nhân có thuộc diện miễn thuế hay không vẫn phụ thuộc vào công tác hậu kiểm của cơ quan quản lý.

Thiết thực hỗ trợ người thật sự có nhu cầu nhà ở

Từ ngày 1/7/2026, người dân chuyển nhượng căn nhà hoặc thửa đất ở duy nhất được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, Huỳnh Thanh Điền

Tăng trưởng không chỉ là quy mô GDP

Tăng trưởng không thể chỉ dựa vào làm nhiều hơn, mà phải dựa vào làm hiệu quả hơn, thông minh hơn và tạo ra giá trị cao hơn. Do vậy, muốn có tăng trưởng hai con số, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, kiến tạo dư địa phát triển mới. Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, đã có cuộc trao đổi với Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.